Afghanistan
quốc gia có chủ quyền ở Trung Á
Afghanistan, quốc hiệu là Tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan, là một quốc gia nội lục ở ngã tư Trung và Nam Á. Afghanistan giáp với Pakistan ở phía đông và nam, Iran ở phía tây, Turkmenistan, Uzbekistan, và Tajikistan ở phía bắc, và Trung Quốc ở phía đông bắc. Có diện tích 652.000 kilômét vuông (252.000 dặm vuông Anh), đây là một quốc gia miền núi với đồng bằng ở phía bắc và tây nam. Kabul là thủ đô và thành phố lớn nhất nước này, với dân số ước tính khoảng 4,6 triệu người chủ yếu gồm các dân tộc Pashtun, Tajiks, Hazaras và Uzbek. Cái tên Afghanistan có nghĩa "Vùng đất của người Afghan". Afghanistan hiện do Taliban lãnh đạo, sau sự sụp đổ của nhà nước Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan vào ngày 15 tháng 8 năm 2021.
Con người đã sống ở khu vực ngày nay là Afghanistan ít nhất 50.000 năm trước. Con người định cư xuất hiện trong khu vực này cách đây 9.000 năm, phát triển dần dần thành nền văn minh lưu vực sông Ấn (địa điểm Shortugai), nền văn minh Oxus (địa điểm Dashlyji), và nền văn minh Helmand (địa điểm Mundigak) trong giai đoạn thiên niên kỷ thứ 3 TCN. Người Ấn-Arya di cư từ khu vực Bactria - Margiana đến Gandhara, tiếp theo là sự trỗi dậy của nền văn hóa Yaz I trong thời kỳ đồ sắt (khoảng 1500–1100 TCN), đã gắn liền với nền văn hóa được mô tả trong Avesta, văn bản tôn giáo cổ của Hỏa giáo. Khu vực này, sau đó được gọi là "Ariana", rơi vào tay người Ba Tư Achaemenid vào thế kỷ thứ 6 TCN. Người Ba Tư sau đó đã chinh phục các khu vực ở phía đông đến tận thung lũng sông Hằng. Alexander Đại đế xâm chiếm khu vực này trong thế kỷ thứ 4 TCN, và kết hôn với Roxana ở Bactria trước khi ông thực hiện chiến dịch thung lũng Kabul, nơi ông chiến đấu với các bộ lạc Aspasioi và Assakan. Vương quốc Hy Lạp-Bactria trở thành phần cuối phía đông của thế giới Hy Lạp. Sau cuộc chinh phục của người da đỏ Maurya, Phật giáo và Ấn Độ giáo đã phát triển mạnh mẽ trong khu vực này trong nhiều thế kỷ. Hoàng đế Kushan Kanishka, người trị vì hai thủ đô Kapisi và Puruṣapura, đã đóng một vai trò quan trọng trong việc truyền bá Phật giáo Đại thừa đến Trung Quốc và Trung Á. Nhiều triều đại Phật giáo khác cũng bắt nguồn từ khu vực này, bao gồm Kidarites, Hephthalites, Alkhons, Nezaks, Zunbils và Turk Shahis.
Người Hồi giáo đưa Hồi giáo đến Herat và Zaranj thuộc đế quốc Sasan vào giữa thế kỷ thứ 7, trong khi việc Hồi giáo hóa đầy đủ hơn đã đạt được từ thế kỷ 9 đến 12 dưới các triều đại Saffarid, Samanid, Ghaznavid và Ghurid. Các phần của khu vực này sau đó được các đế chế Khwarazmian, Khalji, Timurid, Lodi, Sur, Mughal và Safavid cai trị. Lịch sử chính trị của nhà nước Afghanistan hiện đại bắt đầu với triều đại Hotak, với người sáng lập Mirwais Hotak tuyên bố miền nam Afghanistan độc lập vào năm 1709. Năm 1747, Ahmad Shah Durrani thành lập Đế quốc Durrani với thủ đô tại Kandahar. Năm 1776, thủ đô Durrani được chuyển đến Kabul trong khi Peshawar trở thành thủ đô mùa đông; sau này bị mất vào tay người Sikh vào năm 1823. Vào cuối thế kỷ 19, Afghanistan trở thành một quốc gia đệm trong "Ván Cờ Lớn" giữa hai đế quốc Anh và Nga.
Trong Chiến tranh Anh-Afghanistan thứ nhất, 1839-1842, lực lượng Anh đến từ Ấn Độ lúc đầu giành quyền kiểm soát Afghanistan, nhưng sau đó đã bị đánh bại một cách dứt khoát. Sau Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ ba vào năm 1919, Afghanistan đã có thể độc lập thoát khỏi ảnh hưởng của nước ngoài. Afghanistan trở thành một chế độ quân chủ dưới thời Amanullah Khan. Tuy nhiên vào năm 1973 Zahir Shah bị lật đổ và một nước cộng hòa được thành lập. Năm 1978, sau cuộc đảo chính lần thứ hai, Afghanistan lần đầu tiên trở thành một nhà nước xã hội chủ nghĩa, gây ra Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan trong những năm 1980 chống lại phiến quân mujahideen. Đến năm 1996, phần lớn đất nước bị nhóm Taliban với chủ nghĩa chính thống Hồi giáo cai trị như chế độ toàn trị. Taliban đã bị mất quyền lực sau cuộc xâm lược của Hoa Kỳ vào năm 2001 nhưng vẫn kiểm soát một phần đáng kể Afghanistan. Cuộc chiến diễn ra giữa chính phủ mới do Hoa Kỳ thành lập và Taliban đã làm dày thêm hồ sơ nhân quyền và quyền phụ nữ ở Afghanistan, với nhiều hành vi vi phạm mà cả hai bên đều vi phạm, chẳng hạn như giết hại dân thường, bắt cóc và tra tấn. Do sự phụ thuộc sâu rộng của chính phủ Afghanistan đối với Hoa Kỳ về mặt quân sự và viện trợ kinh tế, một số người coi Afghanistan như quốc gia phụ thuộc của Hoa Kỳ. Năm 2021, Hoa Kỳ rút quân khỏi Afghanistan, và chỉ ít tháng sau thì Taliban giành lại quyền kiểm soát đất nước sau khi đánh đổ chính phủ do Hoa Kỳ hậu thuẫn.
Afghanistan là một nước nghèo đói, suy dinh dưỡng trẻ em và tham nhũng ở mức cao. Ngoài ra, Afghanistan còn là thành viên của Liên Hợp Quốc, Tổ chức Hợp tác Hồi giáo, Hiệp hội Hợp tác Khu vực Nam Á, Nhóm 77, Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phong trào không liên kết. Nền kinh tế của Afghanistan là nền kinh tế lớn thứ 96 trên thế giới, với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là 72,9 tỷ USD theo sức mua tương đương; quốc gia này kém hơn nhiều về GDP bình quân đầu người (PPP), xếp thứ 169 trong số 186 quốc gia tính đến năm 2018.
Tên gọi
Cái tên Afghānistān dịch thành "Vùng đất của người Afghan". Tên ngày này xuất phát từ từ Afghan.
"Stan" có nghĩa là đất hay địa điểm. Afghanistan có nghĩa là vùng đất của người Afghanistan. Từ "stan" cũng được sử dụng trong tên của Kurdistan và Uzbekistan.
Nguồn gốc và ý nghĩa từ "Afghan"
Người Pashtun đã bắt đầu sử dụng thuật ngữ Afghan là tên gọi họ ít nhất từ thời kỳ Hồi giáo trở về sau. Theo W. K. Frazier Tyler, M. C. Gillet và nhiều học giả khác, "Từ Afghan lần đầu xuất hiện trong lịch sử ở thời Hudud-al-Alam năm 982. Bách khoa toàn thư Iran giải thích:
"Từ một quan điểm sắc tộc và có tính hạn chế hơn, 'Afghān' là thuật ngữ những người Afghanistan nói tiếng Ba Tư (và nói chung những nhóm sắc tốc không sử dụng tiếng Paštō) chỉ người Paštūn. Sự cân bằng [của] Afghan [và] Paštūn đã được phổ biến rộng rãi cả bên trong và bên ngoài Afghanistan, bởi liên minh bộ tộc Paštūn chiếm ưu thế áp đảo trong nước, cả về dân số và chính trị."@
Từ điển giải thích thêm:
"Thuật ngữ 'Afghān' có lẽ đã được dùng để chỉ người Paštūn từ những thời cổ đại. Dưới hình thức Avagānā, nhóm sắc tộc này lần đầu tiên đã được nhà thiên văn học Ấn Độ Varāha Mihira đề cập ở đầu thế kỷ thứ VI trong tác phẩm Brihat-samhita của ông."
Bằng chứng trong văn học Pashto truyền thống ủng hộ lý thuyết này, ví dụ trong những văn bản thế kỷ XVII nhà thơ Pashto Khushal Khan Khattak đã viết:
"Rút kiếm ra và giết chết bất kỳ kẻ nào, kẻ nói Pashtun và Afghan không phải là một! người Ả Rập biết điều này và người Roma cũng thế: người Afghan là người Pashtun, người Pashtun là người Afghan!"
Nguồn gốc và ý nghĩa từ "Afghanistan"
Phần cuối của cái tên, -stān, là một hậu tố Ấn-Iran với nghĩa "địa điểm", nó rất thường xuất hiện trong các ngôn ngữ trong vùng.
Thuật ngữ "Afghanistan", nghĩa "Vùng đất của người Afghan", từng được Babur, Hoàng đế Môgôn, đề cập tới ở thế kỷ XVI trong cuốn hồi ký của ông, để gọi những vùng lãnh thổ phía nam Kabul nơi người Pashtun sinh sống (được gọi là "Afghans" bởi người Babur). Về quốc gia "Afghanistan" hiện đại, Bách khoa toàn thư Hồi giáo đã viết:
"Afghānistān đã mang tên này từ giữa thế kỷ XVIII, khi quyền ưu của tộc người Afghan (Pashtun) bắt đầu được khẳng định: trước đó các tỉnh có tên gọi khác nhau, nhưng đất nước không phải là một đơn vị chính trị xác định, và các thành phần của nó không liên kết với nhau bởi sự đồng nhất chủng tộc hay ngôn ngữ. Trước kia từ này chỉ đơn giản có nghĩa 'vùng đất của người Afghan', một vùng lãnh thổ hạn chế không bao gồm nhiều phần hiện nay của quốc gia nhưng thực sự có bao gồm các vùng lãnh thổ hiện đã độc lập hay đang ở trong lãnh thổ Pakistan."
Cho tới thế kỷ XIX, cái tên này chỉ được sử dụng cho vùng đất truyền thống của người Pashtun, trong khi thực thể gồm cả vương quốc được gọi là Vương quốc Kabul, như đã được nhà sử học Anh Mountstuart Elphinstone nói tới. Những vùng khác của đất nước trong một số giai đoạn được thừa nhận như những vương quốc độc lập, như Vương quốc Balkh ở cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX.
Với sự mở rộng và tập trung hóa của quốc gia, chính quyền Afghan đã chấp nhận và mở rộng cái tên "Afghanistan" cho toàn bộ vương quốc, sau khi cái tên dịch sang tiếng Anh của nó, "Afghanland", đã xuất hiện trong nhiều hiệp ước giữa British Raj và Triều đại Qajar Ba Tư, để chỉ những vùng đất phụ thuộc Triều đại Barakzai của người Pashtun tại Kabul. "Afghanistan" trở thành cái tên phổ biến chỉ toàn bộ vương quốc được công chúng phương Tây biết đến năm 1857 bởi Friedrich Engels khi ông viết về vương quốc này trong New American Cyclopædia. Nó đã trở thành tên chính thức khi nước này được cộng đồng quốc tế công nhận năm 1919, sau khi giành lại độc lập hoàn toàn từ người Anh và được tái xác nhận trong bản hiến pháp đất nước năm 1923.
Lịch sử
Nhiều đế chế và vương quốc đã lên nắm quyền ở Afghanistan, chẳng hạn như vương quốc Hy Lạp-Bactria, Ấn-Scythia, đế quốc Kushan, Kidarites, Hephthalites, Alkhons, Nezak, Zunbils, Turk Shahis, Hindu Shahis, Lawik, Saffarid, Samanid, Ghaznavid, Ghurid, Khwarezm, Khalji, Kartid, Lodi, Sur, Mogul, và cuối cùng là các triều đại Hotak và Durrani, đã đánh dấu nguồn gốc chính trị của nhà nước hiện đại. Trong suốt nhiều thiên niên kỷ, một số thành phố ở Afghanistan ngày nay từng là thủ đô của nhiều đế chế khác nhau, cụ thể là Bactra (Balkh), Alexandria trên Oxus (Ai-Khanoum), Kapisi, Sigal, Kabul, Kunduz, Zaranj, Firozkoh, Herat, Ghazna (Ghazni), Binban (Bamyan) và Kandahar.
Afghanistan là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau qua nhiều thời đại, trong số đó có các dân tộc Iran cổ đại, những người đã thiết lập vai trò thống trị của các ngôn ngữ Ấn-Iran trong khu vực này. Tại nhiều điểm, vùng đất đã được hợp nhất với các đế chế rộng lớn trong khu vực, trong số đó có Đế chế Achaemenid, Đế chế Macedonia, Đế chế Maurya và Đế chế Hồi giáo. Vì thành công trong việc chống lại sự chiếm đóng của nước ngoài trong thế kỷ 19 và 20, Afghanistan đã được gọi là " nghĩa địa của các đế chế", mặc dù không biết ai đã đặt ra cụm từ này.
Tiền sử và thời cổ đại
Việc khai quật những địa điểm tiền sử của Louis Dupree, Đại học Pennsylvania, Viện Smithsonian và những tổ chức khác cho thấy, con người đã sống tại nơi hiện là Afghanistan từ ít nhất 50.000 năm trước, và các cộng đồng biết canh tác trong vùng là một trong số những cộng đồng xuất hiện sớm nhất trên thế giới. Được coi là một địa điểm quan trọng của các hoạt động lịch sử ban đầu, nhiều người tin rằng Afghanistan sánh ngang với Ai Cập về giá trị lịch sử của các địa điểm khảo cổ của nó.
Các cuộc thăm dò khảo cổ học được thực hiện vào thế kỷ 20 cho thấy rằng khu vực địa lý của Afghanistan đã được kết nối chặt chẽ bởi văn hóa và thương mại với các nước láng giềng ở phía đông, tây và bắc. Các đồ tạo tác tiêu biểu của thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá trung đại, đồ đá mới, đồ đồng và đồ sắt đã được tìm thấy ở Afghanistan. Nền văn minh đô thị được cho là bắt đầu sớm nhất từ năm 3000 trước Công nguyên, và thành phố đầu tiên của Mundigak (gần Kandahar ở phía nam của Afghanistan) là một trung tâm của nền văn hóa Helmand. Những phát hiện gần đây hơn cho thấy Nền văn minh Thung lũng Indus kéo dài đến Afghanistan ngày nay, biến nền văn minh cổ đại này ngày nay trở thành một phần của Pakistan, Afghanistan và Ấn Độ. Chi tiết hơn, nó kéo dài từ vùng ngày nay là tây bắc Pakistan đến tây bắc Ấn Độ và đông bắc Afghanistan. Một khu vực Thung lũng sông Ấn đã được tìm thấy trên sông Oxus tại Shortugai, miền bắc Afghanistan. Có một số thuộc địa của văn minh thung lũng sông Hằng nhỏ hơn cũng được tìm thấy ở Afghanistan.
Sau năm 2000 TCN, những làn sóng liên tiếp của những người bán du mục từ Trung Á bắt đầu di chuyển về phía nam vào Afghanistan; trong số họ có nhiều người Ấn-Iran nói tiếng Ấn-Âu. Những bộ lạc này sau đó đã di cư xa hơn vào Nam Á, Tây Á và sang châu Âu qua khu vực phía bắc của Biển Caspi. Khu vực này vào thời điểm đó được gọi là Ariana.
Hỏa giáo và thời đại Hy Lạp
Hỏa giáo được một số người tin rằng có nguồn gốc từ Afghanistan ngày nay từ năm 1800 đến 800 TCN, vì người sáng lập Zarathustra được cho là đã sống và chết ở Balkh. Các ngôn ngữ Đông Iran cổ đại có thể đã được sử dụng trong khu vực vào khoảng thời gian trỗi dậy của Hỏa giáo. Vào giữa thế kỷ thứ 6 TCN, người Achaemenid lật đổ người Medes và hợp nhất Arachosia, Aria và Bactria trong ranh giới phía đông của nó. Một dòng chữ trên bia mộ của Darius I của Ba Tư đề cập đến Thung lũng Kabul trong danh sách 29 quốc gia mà ông đã chinh phục. Khu vực Arachosia, xung quanh Kandahar ở miền nam Afghanistan ngày nay, trước đây chủ yếu là của người Hỏa giáo và đóng một vai trò quan trọng trong việc chuyển Avesta đến Ba Tư và do đó được một số người coi là "quê hương thứ hai của Hỏa giáo".
Alexander Đại đế và các lực lượng Macedonia của ông đến Afghanistan vào năm 330 TCN sau khi đánh bại Darius III của Ba Tư một năm trước đó trong Trận Gaugamela. Sau sự chiếm đóng ngắn ngủi của Alexander, nhà nước kế vị của Đế chế Seleukos đã kiểm soát khu vực này cho đến năm 305 TCN khi họ trao phần lớn đất đai cho Đế chế Maurya như một phần của hiệp ước liên minh. Người Maurya kiểm soát khu vực phía nam của Ấn Độ giáo Kush cho đến khi họ bị lật đổ vào khoảng năm 185 TCN. Sự suy tàn của họ bắt đầu 60 năm sau khi sự cai trị của Ashoka kết thúc, dẫn đến cuộc tái chinh phục người Hy Lạp bởi Greco-Bactrian. Phần lớn trong số đó sớm tách khỏi họ và trở thành một phần của Vương quốc Ấn-Hy Lạp. Họ đã bị người Indo-Scythia đánh bại và trục xuất vào cuối thế kỷ thứ 2 TCN.
Thời đại Ấn Độ giáo và Phật giáo
Con đường Tơ lụa xuất hiện trong thế kỷ đầu tiên TCN, và Afghanistan phát triển mạnh mẽ với thương mại, với các tuyến đường đến Trung Quốc, Ấn Độ, Ba Tư và phía bắc đến các thành phố Bukhara, Samarkand và Khiva ở Uzbekistan ngày nay. Hàng hóa và ý tưởng được trao đổi tại điểm trung tâm này, chẳng hạn như lụa Trung Quốc, bạc Ba Tư và vàng La Mã, trong khi khu vực Afghanistan hiện nay đang khai thác và buôn bán đá lapis lazuli chủ yếu từ vùng Badakhshan.
Trong thế kỷ đầu tiên TCN, Đế chế Parthia đã chinh phục khu vực này nhưng để mất nó vào tay các chư hầu Indo-Parthia. Vào giữa đến cuối thế kỷ thứ nhất CN , Đế chế Kushan rộng lớn, trung tâm là Afghanistan, đã trở thành những người bảo trợ lớn cho nền văn hóa Phật giáo, khiến cho Phật giáo phát triển mạnh mẽ khắp khu vực này. Người Kushans đã bị người Sassanids lật đổ vào thế kỷ thứ 3 CN, mặc dù người Indo-Sassanid tiếp tục cai trị ít nhất một phần của khu vực. Theo sau họ là những người Kidarites, những người lần lượt bị thay thế bởi những người Hephthalite. Họ đã được thay thế bởi Turk Shahi vào thế kỷ thứ 7. Turk Shahi của đạo Phật ở Kabul đã được thay thế bởi một triều đại Hindu trước khi Saffarids chinh phục khu vực này vào năm 870, triều đại Hindu này được gọi là Hindu Shahi. Phần lớn các khu vực đông bắc và nam của đất nước vẫn bị văn hóa Phật giáo chi phối.
Trung đại
==== Cuộc chinh phục của Hồi giáo ====
Người Hồi giáo Ả Rập đưa Hồi giáo đến Herat và Zaranj vào năm 642 và bắt đầu lan rộng về phía đông; một số cư dân bản địa mà họ gặp phải chấp nhận nó trong khi những người khác nổi dậy. Trước khi đạo Hồi du nhập, người dân trong vùng chủ yếu là Phật tử và người theo Hỏa giáo, nhưng cũng có những người thờ cúng Surya và Nana , người Do Thái, và những người khác. Zunbils và Kabul Shahi lần đầu tiên bị người Hồi giáo Saffarid của Zaranj chinh phục vào năm 870. Sau đó, người Samanid mở rộng ảnh hưởng Hồi giáo của họ về phía nam của Hindu Kush. Có thông tin cho rằng những người theo đạo Hồi và không theo đạo Hồi vẫn sống cạnh nhau ở Kabul trước khi nhà Ghaznavid lên nắm quyền vào thế kỷ 10.
Đến thế kỷ 11, Mahmud của Ghazni đã đánh bại các nhà cai trị Hindu còn lại và Hồi giáo hóa một cách hiệu quả khu vực rộng lớn hơn, ngoại trừ Kafiristan. Mahmud đã biến Ghazni thành một thành phố quan trọng và bảo trợ những trí thức như nhà sử học Al-Biruni và nhà thơ Ferdowsi. Vương triều Ghaznavid đã bị lật đổ bởi Ghurids, những người có thành tựu kiến trúc bao gồm Minaret of Jam xa xôi. Người Ghurid kiểm soát Afghanistan trong chưa đầy một thế kỷ trước khi bị triều đại Khwarazmi chinh phục vào năm 1215.
Người Mông Cổ và Babur
Năm 1219, Thành Cát Tư Hãn và quân đội Mông Cổ của ông đã chiếm đóng khu vực này. Quân Mông Cổ được cho là đã tiêu diệt các thành phố Herat và Balkh của Khwarazmian cũng như Bamyan. Sự tàn phá do người Mông Cổ gây ra đã buộc nhiều người dân địa phương quay trở lại xã hội nông thôn nông nghiệp. Sự cai trị của người Mông Cổ tiếp tục với Ilkhanate ở phía tây bắc trong khi triều đại Khalji quản lý các khu vực bộ lạc Afghanistan ở phía nam của Hindu Kush cho đến khi xâm lược Timur (hay còn gọi là Tamerlane), người đã thành lập Đế chế Timurid vào năm 1370. Dưới sự cai trị của Shah Rukh, thành phố từng là tâm điểm của thời kỳ Phục hưng Timurid, nơi vinh quang sánh ngang với Florence của thời kỳ Phục hưng Ý là trung tâm của sự tái sinh văn hóa.
Vào đầu thế kỷ 16, Babur đến từ Ferghana và chiếm Kabul từ triều đại Arghun. Giữa thế kỷ 16 và 18, Hãn quốc Bukhara của người Uzbekistan, người Safavid của Iran và người Mughal của Ấn Độ đã cai trị một phần lãnh thổ. Trong Thời kỳ Trung cổ, khu vực tây bắc của Afghanistan được gọi bằng tên khu vực là Khorasan. Hai trong số bốn thủ đô của Khorasan (Herat và Balkh) hiện nằm ở Afghanistan, trong khi các vùng Kandahar, Zabulistan, Ghazni, Kabulistan và Afghanistan hình thành biên giới giữa Khorasan và Hindustan. Tuy nhiên, cho đến thế kỷ 19, thuật ngữ Khorasan được người bản xứ sử dụng phổ biến để mô tả đất nước của họ; Sir George Elphinstone ngạc nhiên viết rằng đất nước mà người ngoài gọi là "Afghanistan" được chính cư dân của nó gọi là "Khorasan" và rằng quan chức Afghanistan đầu tiên mà ông gặp ở biên giới đã chào đón ông đến Khorasan.
Lịch sử hiện đại
==== Vương triều Hotak và Durrani ====
Năm 1709, Mirwais Hotak, một thủ lĩnh bộ lạc Ghilzai địa phương, đã thành công nổi dậy chống lại người Safavid. Ông đã đánh bại Gurgin Khan và thành lập vương quốc của riêng mình. Mirwais chết vì nguyên nhân tự nhiên vào năm 1715 và được anh trai của ông là Abdul Aziz kế vị. Aziz sau đó bị con trai của Mirwais là Mahmud giết vì tội phản quốc. Năm 1722, Mahmud dẫn đầu quân đội Afghanistan đến thủ đô Isfahan của Ba Tư, chiếm thành phố này sau trận Gulnabad và tự xưng là Vua của Ba Tư. Vương triều Afghanistan bị Nader Shah lật đổ tại Ba Tư sau trận Damghan năm 1729.
Năm 1738, Nader Shah và các lực lượng của ông đã chiếm được Kandahar, thành trì cuối cùng của Hotak, từ Shah Hussain Hotak, lúc này chàng trai 16 tuổi Ahmad Shah Durrani bị giam giữ đã được giải thoát và trở thành chỉ huy của một trung đoàn Afghanistan. Ngay sau đó, quân Ba Tư và Afghanistan xâm lược Ấn Độ. Đến năm 1747, người Afghanistan đã chọn Durrani làm nguyên thủ quốc gia của họ. Durrani và quân đội Afghanistan của ông đã chinh phục phần lớn Afghanistan, Pakistan ngày nay, các tỉnh Khorasan và Kohistan của Iran, và Delhi ở Ấn Độ. Ông đã đánh bại Đế chế Maratha của Ấn Độ, và một trong những chiến thắng lớn nhất của ông là Trận Panipat năm 1761.
Vào tháng 10 năm 1772, Durrani qua đời vì nguyên nhân tự nhiên và được chôn cất tại một địa điểm hiện nay liền kề với Shrine of the Cloak ở Kandahar. Ông được con trai của mình, Timur Shah kế vị, và Shah đã chuyển thủ đô của vương quốc mình từ Kandahar đến Kabul vào năm 1776, với Peshawar trở thành thủ đô mùa đông. Sau cái chết của Timur vào năm 1793, ngai vàng Durrani được truyền lại cho con trai ông là Zaman Shah, tiếp theo là Mahmud Shah, Shuja Shah và những người khác.
Vương triều Barakzai và các cuộc chiến tranh với Anh
Vào đầu thế kỷ 19, đế chế Afghanistan đang bị đe dọa bởi người Ba Tư ở phía tây và Đế chế Sikh ở phía đông. Fateh Khan, thủ lĩnh của bộ tộc Barakzai, đã xếp đặt 21 người anh em của mình vào các vị trí quyền lực trên khắp đế chế. Sau khi ông qua đời, họ nổi dậy và chia cắt các tỉnh của đế chế với nhau. Trong thời kỳ hỗn loạn này, Afghanistan có nhiều người cai trị tạm thời cho đến khi Dost Mohammad Khan tuyên bố mình là tiểu vương vào năm 1823. Punjab và Kashmir bị mất vào tay Ranjit Singh, người đã xâm lược Khyber Pakhtunkhwa vào tháng 3 năm 1823 và chiếm được thành phố Peshawar trong trận Nowshera. Năm 1837, trong Trận Jamrud gần Đèo Khyber, Akbar Khan và quân đội Afghanistan không chiếm được Pháo đài Jamrud từ Quân đội Sikh Khalsa, nhưng đã giết được Chỉ huy người Sikh Hari Singh Nalwa, do đó kết thúc Chiến tranh Afghanistan-Sikh. Vào thời điểm này, người Anh đang tiến quân từ phía đông và cuộc xung đột lớn đầu tiên trong "Ván Cờ Lớn" đã bắt đầu.
Năm 1838, một lực lượng viễn chinh Anh tiến vào Afghanistan và bắt giữ Dost Mohammad, bắt ông đi lưu vong ở Ấn Độ và thay thế ông bằng người cai trị trước đó, Shah Shuja. Sau một cuộc nổi dậy, năm 1842 rút lui khỏi Kabul của lực lượng Anh-Ấn và tiêu diệt quân đội của Elphinstone , và Trận Kabul dẫn đến việc tái chiếm, người Anh đặt Dost Mohammad Khan trở lại quyền lực và rút các lực lượng quân sự của họ khỏi Afghanistan. Năm 1878, Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ hai diễn ra vì nhận thấy ảnh hưởng của Nga trong khu vực, Abdur Rahman Khan thay thế Ayub Khan, và Anh giành quyền kiểm soát các mối quan hệ đối ngoại của Afghanistan như một phần của Hiệp ước Gandamak năm 1879. Năm 1893, Amir Abdur Rahman ký một thỏa thuận trong đó lãnh thổ của người Pashtun và người Baloch bị chia cắt bởi Đường Durand, tạo thành biên giới ngày nay giữa Pakistan và Afghanistan. Hazarajat do người Shia thống trị và người Kafiristan ngoại giáo vẫn độc lập về mặt chính trị cho đến khi bị Abdur Rahman Khan chinh phục năm 1891–1896. Ông được biết đến với cái tên "Iron Amir" vì vẻ ngoài và phương pháp tàn nhẫn của mình chống lại các bộ tộc. Iron Amir coi các tuyến đường sắt và điện báo đến từ Nga và Anh là "con ngựa thành Troia" và do đó đã ngăn cản sự phát triển đường sắt ở Afghanistan. Ông mất năm 1901, được con trai ông là Habibullah Khan kế vị.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, khi Afghanistan còn trung lập, Habibullah Khan đã gặp gỡ các quan chức của Các cường quốc Trung tâm trong Phái bộ Niedermayer–Hentig, để tuyên bố độc lập hoàn toàn khỏi Vương quốc Anh, tham gia cùng họ và tấn công Ấn Độ thuộc Anh, như một phần của Âm mưu Hindu-Đức. Những nỗ lực của họ nhằm đưa Afghanistan trở thành cường quốc Trung tâm đã thất bại, nhưng nó đã gây ra sự bất bình trong dân chúng vì đã giữ thái độ trung lập với người Anh. Habibullah bị ám sát trong một chuyến đi săn vào năm 1919, và Amanullah Khan cuối cùng lên nắm quyền. Là một người ủng hộ trung thành cho các cuộc thám hiểm 1915–1916, Amanullah Khan đã kích hoạt Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ ba, tiến công Ấn Độ thuộc Anh qua đèo Khyber.
Sau khi Chiến tranh Anh-Afghanistan lần thứ ba kết thúc và việc ký kết Hiệp ước Rawalpindi vào ngày 19 tháng 8 năm 1919, Vua Amanullah Khan tuyên bố Afghanistan là một quốc gia có chủ quyền và hoàn toàn độc lập. Ông đã chấm dứt sự cô lập truyền thống của đất nước mình bằng cách thiết lập quan hệ ngoại giao với cộng đồng quốc tế, đặc biệt là với Liên Xô và Cộng hòa Weimar của Đức. Sau chuyến công du châu Âu và Thổ Nhĩ Kỳ năm 1927–28, ông đã đưa ra một số cải cách nhằm hiện đại hóa quốc gia của mình. Lực lượng chủ chốt đằng sau những cải cách này là Mahmud Tarzi, một người ủng hộ nhiệt tình việc giáo dục phụ nữ. Ông đã đấu tranh cho Điều 68 của hiến pháp năm 1923 của Afghanistan, trong đó giáo dục tiểu học là bắt buộc. Chế độ chiếm hữu nô lệ bị bãi bỏ vào năm 1923. Vợ của Khan, Nữ hoàng Soraya Tarzi là một nhân vật nổi tiếng trong thời kỳ này.
Một số cải cách đã được thực hiện, chẳng hạn như bãi bỏ burqa truyền thống đối với phụ nữ và mở một số trường đồng giáo dục, nhanh chóng khiến nhiều nhà lãnh đạo bộ lạc và tôn giáo xa lánh, và điều này dẫn đến Nội chiến Afghanistan (1928–1929). Đối mặt với lực lượng vũ trang áp đảo của phe đối lập, Amanullah Khan phải thoái vị vào tháng 1 năm 1929, và ngay sau đó Kabul rơi vào tay lực lượng Saqqawist do Habibullah Kalakani lãnh đạo. Thái tử Mohammed Nadir Shah, em họ của Amanullah, lần lượt đánh bại và giết Kalakani vào tháng 10 năm 1929, và được tuyên bố là Vua Nadir Shah. Ông từ bỏ các cải cách của Amanullah Khan để ủng hộ cách tiếp cận dần dần để hiện đại hóa nhưng bị Abdul Khaliq, một học sinh Hazara mới mười lăm tuổi, vốn là một người trung thành với Amanullah ám sát vào năm 1933.
Mohammed Zahir Shah, con trai 19 tuổi của Nadir Shah, kế vị ngai vàng và trị vì từ năm 1933 đến năm 1973. Các cuộc nổi dậy của bộ lạc năm 1944–1947 chứng kiến triều đại của Zahir Shah bị thách thức bởi những người thuộc bộ lạc Zadran, Safi, Mangal và Wazir do Mazrak Zadran, Salemai và Mirzali Khan lãnh đạo, và các bộ lạc khác, nhiều người trong số họ là những người trung thành với Amanullah. Quan hệ chặt chẽ với các quốc gia Hồi giáo như Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Iraq và Iran / Ba Tư cũng được theo đuổi, trong khi các mối quan hệ quốc tế sâu rộng hơn được tìm kiếm bằng cách gia nhập Hội Quốc Liên vào năm 1934. Những năm 1930 chứng kiến sự phát triển của đường xá, cơ sở hạ tầng, sự thành lập của ngân hàng quốc gia và sự gia tăng của giáo dục. Các tuyến đường bộ ở phía bắc đóng một vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp dệt và bông đang phát triển. Nước này đã xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các nước phe Trục, trong đó Đức có tác động lớn nhất trong sự phát triển của Afghanistan vào thời điểm đó, cùng với Ý và Nhật Bản.
Lịch sử đương đại
Cho đến năm 1946, Zahir Shah cầm quyền với sự hỗ trợ của người chú của mình với chức vụ Thủ tướng và tiếp tục các chính sách của Nadir Shah. Một người chú khác của Zahir Shah, Shah Mahmud Khan, trở thành Thủ tướng vào năm 1946 và bắt đầu một cuộc thử nghiệm cho phép tự do chính trị lớn hơn, nhưng đã đảo ngược chính sách khi việc này đi xa hơn những gì ông mong đợi. Ông bị thay thế vào năm 1953 bằng Mohammed Daoud Khan, em họ và anh rể của nhà vua, đồng thời là một người theo chủ nghĩa dân tộc Pashtun. Thủ tướng mới Khan này đã tìm cách thành lập một nước Pashtunistan, dẫn đến quan hệ căng thẳng với Pakistan. Trong suốt 10 năm tại vị cho đến năm 1963, Daoud Khan thúc đẩy cải cách hiện đại hóa xã hội và tìm kiếm mối quan hệ chặt chẽ hơn với Liên Xô. Sau đó, hiến pháp năm 1964 được hình thành và vị Thủ tướng không thuộc hoàng gia đầu tiên tuyên thệ nhậm chức.
Vua Zahir Shah, giống như cha mình là Nadir Shah, có chính sách duy trì độc lập quốc gia trong khi theo đuổi từng bước hiện đại hóa, tạo cảm xúc dân tộc chủ nghĩa và cải thiện quan hệ với Vương quốc Anh. Tuy nhiên, Afghanistan vẫn trung lập và không tham gia vào Chiến tranh Thế giới thứ hai cũng như không liên kết với cả hai khối cường quốc trong Chiến tranh Lạnh sau đó. Tuy nhiên, nước này lại là người hưởng lợi từ sự cạnh tranh trong Chiến tranh Lạnh vì cả Liên Xô và Hoa Kỳ đều tranh giành ảnh hưởng bằng cách xây dựng các đường cao tốc chính, sân bay và cơ sở hạ tầng quan trọng khác của Afghanistan trong thời kỳ hậu chiến. Tính theo bình quân đầu người, Afghanistan nhận được nhiều viện trợ phát triển của Liên Xô hơn bất kỳ quốc gia nào khác. Do đó, Afghanistan có quan hệ tốt với cả hai kẻ thù thời Chiến tranh Lạnh. Năm 1973, khi Nhà vua đang ở Ý, Daoud Khan đã phát động một cuộc đảo chính không đổ máu và trở thành Tổng thống đầu tiên của Afghanistan, bãi bỏ chế độ quân chủ.
Cộng hòa Dân chủ và Chiến tranh Liên Xô–Afghanistan
Vào tháng 4 năm 1978, Đảng Dân chủ Nhân dân Afghanistan theo cộng sản (PDPA) đã lên nắm quyền trong một cuộc đảo chính đẫm máu chống lại Tổng thống khi đó là Mohammed Daoud Khan, được gọi là Cách mạng Saur. PDPA tuyên bố thành lập Cộng hòa Dân chủ Afghanistan, với lãnh đạo đầu tiên của nước này là Tổng bí thư Đảng Dân chủ Nhân dân Nur Muhammad Taraki. Điều này sẽ kích hoạt một loạt các sự kiện khiến Afghanistan thay đổi đáng kể từ một quốc gia nghèo nàn và hẻo lánh (và yên bình) trở thành một điểm nóng của khủng bố quốc tế. PDPA đã khởi xướng nhiều cải cách xã hội, phân phối đất đai, gây ra sự phản đối mạnh mẽ, đồng thời đàn áp dã man những người bất đồng chính kiến. Điều này gây ra tình trạng bất ổn và nhanh chóng mở rộng thành tình trạng nội chiến vào năm 1979, do các nhóm du kích mujahideen (và các du kích Maoist nhỏ hơn) tiến hành chống lại các lực lượng của chế độ trên toàn quốc. Nó nhanh chóng biến thành một cuộc chiến tranh ủy nhiệm khi chính phủ Pakistan cung cấp cho những người nổi dậy này các trung tâm huấn luyện bí mật, Hoa Kỳ hỗ trợ họ thông qua Cơ quan Tình báo Liên ngành của Pakistan (ISI), và Liên Xô đã cử hàng nghìn cố vấn quân sự đến hỗ trợ chế độ PDPA. Trong khi đó, ngày càng có nhiều xích mích thù địch giữa các phe phái cạnh tranh bên trong PDPA, với nhóm Khalq chiếm ưu thế và Parcham ôn hòa hơn.
Vào tháng 9 năm 1979, Tổng Bí thư Đảng PDPA Taraki bị ám sát trong một cuộc đảo chính nội bộ do thành viên Khalq lúc bấy giờ là Thủ tướng Hafizullah Amin, người đảm nhận chức tổng thư ký mới của Đảng Dân chủ Nhân dân, dàn dựng. Tình hình đất nước trở nên tồi tệ dưới thời Amin và hàng nghìn người đã mất tích. Không hài lòng với chính phủ của Amin, Quân đội Liên Xô xâm lược Afghanistan vào tháng 12 năm 1979, tấn công Kabul và giết chết Amin chỉ ba ngày sau đó. Một chế độ do Liên Xô tổ chức, do Babrak Karmal của Parcham lãnh đạo nhưng bao gồm cả hai phe (Parcham và Khalq), đã thay thế chính quyền cũ. Quân đội Liên Xô với số lượng đáng kể hơn đã được triển khai để ổn định Afghanistan dưới thời Karmal, đánh dấu sự khởi đầu của Chiến tranh Liên Xô-Afghanistan. Hoa Kỳ và Pakistan, cùng với các nước nhỏ hơn như Ả Rập Xê-út và Trung Quốc, tiếp tục hỗ trợ quân nổi dậy, cung cấp hàng tỷ đô la tiền mặt và vũ khí bao gồm hai nghìn tên lửa đất đối không FIM-92 Stinger. Chiến tranh kéo dài chín năm và đã gây ra cái chết của 562.000 đến 2 triệu người Afghanistan, và khiến 6 triệu người mất nhà cửa, sau đó đã bỏ trốn khỏi Afghanistan, chủ yếu đến Pakistan và Iran. Các cuộc không kích nặng nề đã phá hủy nhiều ngôi làng ở nông thôn, hàng triệu quả mìn đã được và một số thành phố như Herat và Kandahar cũng bị hư hại do bị pháo kích. Tỉnh Biên giới Tây Bắc của Pakistan hoạt động như một cơ sở tổ chức và mạng lưới cho cuộc kháng chiến Afghanistan chống Liên Xô, với các Deobandi ulama có ảnh hưởng lớn của tỉnh này đóng vai trò hỗ trợ chính trong việc thúc đẩy 'thánh chiến'. Sau khi Liên Xô rút quân, cuộc nội chiến xảy ra sau đó cho đến khi chế độ cộng sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Dân chủ Nhân dân Mohammad Najibullah sụp đổ vào năm 1992.
Xung đột hậu Chiến tranh Lạnh
Một cuộc nội chiến khác nổ ra sau khi thành lập một chính phủ liên minh rối loạn chức năng giữa các nhà lãnh đạo khác nhau của các phe phái mujahideen. Giữa tình trạng vô chính phủ và đấu đá phe phái, các phe phái mujahideen khác nhau đã thực hiện hành vi hãm hiếp, giết người và tống tiền trên diện rộng, trong khi Kabul bị bắn phá nặng nề và bị phá hủy một phần bởi cuộc giao tranh. Một số cuộc hòa giải và liên minh không thành đã xảy ra giữa các nhà lãnh đạo khác nhau. Taliban nổi lên vào tháng 9 năm 1994 với tư cách là một phong trào và lực lượng dân quân của học sinh (talib) từ các trường học (madrassa) Hồi giáo ở Pakistan, vốn đã sớm nhận được sự hỗ trợ quân sự từ Pakistan. Nắm quyền kiểm soát thành phố Kandahar vào năm đó, họ đã chinh phục nhiều lãnh thổ hơn cho đến khi cuối cùng đánh bật chính quyền Rabbani khỏi Kabul vào năm 1996, và họ thành lập một tiểu vương quốc chỉ được ba quốc gia công nhận. Taliban đã bị quốc tế lên án vì việc thực thi hà khắc việc giải thích luật sharia của Hồi giáo, dẫn đến việc đối xử tàn bạo với nhiều người Afghanistan, đặc biệt là phụ nữ. Trong thời gian cầm quyền, Taliban và các đồng minh đã thực hiện các cuộc tàn sát nhằm vào dân thường Afghanistan, từ chối cung cấp lương thực của Liên Hợp Quốc cho dân thường đang chết đói và tiến hành chính sách tiêu thổ, đốt cháy những vùng đất màu mỡ rộng lớn và phá hủy hàng chục nghìn ngôi nhà.
Sau khi Kabul thất thủ vào tay Taliban, Ahmad Shah Massoud và Abdul Rashid Dostum thành lập Liên minh phương Bắc, sau đó là sự tham gia của những nhóm khác, để chống lại Taliban. Lực lượng của Dostum đã bị Taliban đánh bại trong Trận chiến Mazar-i-Sharif năm 1997 và 1998; Tham mưu trưởng Lục quân Pakistan, Pervez Musharraf, bắt đầu cử hàng nghìn người Pakistan đến giúp Taliban đánh bại Liên minh phương Bắc. Đến năm 2000, Liên minh phương Bắc chỉ còn kiểm soát 10% lãnh thổ, bị dồn về phía đông bắc. Vào ngày 9 tháng 9 năm 2001, Massoud bị hai kẻ tấn công liều chết Ả Rập tại Thung lũng Panjshir ám sát. Khoảng 400.000 người Afghanistan đã chết trong các cuộc xung đột nội bộ từ năm 1990 đến 2001.
Hoa Kỳ xâm lược Afghanistan và Cộng hòa Hồi giáo
Vào tháng 10 năm 2001, Hoa Kỳ xâm lược Afghanistan để loại bỏ Taliban sau khi Taliban từ chối bàn giao Osama Bin Laden, nghi phạm chính của vụ tấn công ngày 11 tháng 9, là "khách mời" của Taliban và đang điều hành mạng lưới al-Qaeda ở Afghanistan. Đa số người Afghanistan ủng hộ cuộc xâm lược của Hoa Kỳ trên đất nước của họ. Trong cuộc xâm lược ban đầu, các lực lượng Hoa Kỳ và Anh đã ném bom các trại huấn luyện của al-Qaeda, và sau đó hợp tác với Liên minh phương Bắc, làm kết thúc chế độ Taliban.
Tháng 12 năm 2001, sau khi chính phủ Taliban bị lật đổ, Chính quyền lâm thời Afghanistan dưới quyền Hamid Karzai được thành lập. Lực lượng Hỗ trợ An ninh Quốc tế (ISAF) được Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc thành lập để giúp hỗ trợ chính quyền Karzai và cung cấp an ninh cơ bản. Vào thời điểm này, sau hai thập kỷ chiến tranh cũng như nạn đói khốc liệt vào thời điểm đó, Afghanistan là một trong những quốc gia có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ em cao nhất trên thế giới, tuổi thọ thấp nhất, phần lớn dân số bị đói, và cơ sở hạ tầng đổ nát. Nhiều nhà tài trợ nước ngoài bắt đầu cung cấp viện trợ và hỗ trợ để tái thiết lại quốc gia bị chiến tranh tàn phá.
Lực lượng Taliban trong khi đó đã bắt đầu tập hợp lại bên trong Pakistan, trong khi nhiều quân liên minh hơn tiến vào Afghanistan để giúp quá trình tái thiết. Taliban bắt đầu nổi dậy để giành lại quyền kiểm soát Afghanistan. Trong thập kỷ tiếp theo, ISAF và quân đội Afghanistan đã dẫn đầu nhiều cuộc tấn công chống lại Taliban, nhưng không đánh bại được chúng hoàn toàn. Afghanistan vẫn là một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới vì thiếu đầu tư nước ngoài, tham nhũng của chính phủ và lực lượng nổi dậy của Taliban. Trong khi đó, Karzai cố gắng đoàn kết các dân tộc trong nước, và chính phủ Afghanistan đã có thể xây dựng một số cấu trúc dân chủ, thông qua hiến pháp vào năm 2004 với tên gọi Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan. Các nỗ lực đã được thực hiện, thường là với sự hỗ trợ của các nước tài trợ nước ngoài, nhằm cải thiện nền kinh tế, y tế, giáo dục, giao thông và nông nghiệp của đất nước. Lực lượng ISAF cũng bắt đầu huấn luyện Lực lượng An ninh Quốc gia Afghanistan. Sau năm 2002, gần năm triệu người Afghanistan đã được hồi hương. Số lượng quân NATO hiện diện tại Afghanistan đạt đỉnh 140.000 vào năm 2011, giảm xuống còn khoảng 16.000 vào năm 2018.
Vào tháng 9 năm 2014 Ashraf Ghani trở thành tổng thống sau cuộc bầu cử tổng thống năm 2014, đánh dấu mốc lần đầu tiên trong lịch sử quyền lực của Afghanistan được chuyển giao một cách dân chủ. Vào ngày 28 tháng 12 năm 2014, NATO chính thức chấm dứt các hoạt động chiến đấu của ISAF tại Afghanistan và chuyển giao toàn bộ trách nhiệm an ninh cho chính phủ Afghanistan. Chiến dịch do NATO dẫn đầu được thành lập cùng ngày với tư cách là tổ chức kế nhiệm của ISAF. Hàng nghìn binh sĩ NATO vẫn ở lại nước này để huấn luyện và cố vấn cho các lực lượng chính phủ Afghanistan và tiếp tục cuộc chiến chống lại Taliban. Người ta ước tính vào năm 2015 rằng "khoảng 147.000 người đã thiệt mạng trong cuộc chiến Afghanistan kể từ năm 2001. Hơn 38.000 trong số những người thiệt mạng là dân thường ". Một báo cáo có tiêu đề Body Count kết luận rằng 106.000–170.000 thường dân đã thiệt mạng do hậu quả của cuộc giao tranh ở Afghanistan do tất cả các bên tham gia xung đột.
Thời kỳ Taliban thứ hai
Vào ngày 14 tháng 4 năm 2021, Tổng thư ký NATO Jens Stoltenberg cho biết liên minh đã đồng ý bắt đầu rút quân khỏi Afghanistan trước ngày 1 tháng 5. Ngay sau khi bắt đầu rút quân của NATO, Taliban đã tiến hành một cuộc tấn công chống lại chính phủ Afghanistan, nhanh chóng mở rộng lãnh thổ trước một lực lượng chính phủ Afghanistan đang sụp đổ. Vào ngày 15 tháng 8 năm 2021, sau khi một lần nữa kiểm soát được phần lớn lãnh thổ Afghanistan, lực lượng Taliban đã tái chiếm thủ đô Kabul; nhiều dân thường, quan chức chính phủ và nhà ngoại giao đã được sơ tán. Tổng thống Ghani đã rời khỏi Afghanistan ngay trong ngày. Tính đến ngày 16 tháng 8 năm 2021, một Hội đồng Điều phối không chính thức đứng đầu bởi các lãnh đạo cấp cao đang thực hiện nhiệm vụ chuyển giao các cơ quan nhà nước Cộng hòa Hồi giao Afghanistan cho lực lượng Taliban. Vào ngày 17 tháng 8, Phó Tổng thống Thứ nhất Cộng hòa Hồi giáo Afghanistan, Amrullah Saleh, tự xưng là quyền Tổng thống Afghanistan và tuyên bố thành lập mặt trận chống Taliban với khoảng trên 6.000 lính đóng tại Thung lũng Panjshir, cùng với Ahmad Massoud. Tuy nhiên, vào ngày 6 tháng 9, Taliban đã kiểm soát hầu hết tỉnh Panjshir, buộc quân kháng chiến phải rút về vùng núi để tiếp tục chiến đấu tại đây. Các cuộc giao tranh tại thung lũng ngừng lại vào giữa tháng 9, còn các lãnh đạo Amrullah Saleh và Ahmad Massoud của lực lượng kháng chiến đã chạy sang nước láng giềng Tajikistan.
Tiểu vương quốc Hồi giáo Afghanistan được nhanh chóng khôi phục sau khi các lực lượng đối lập thất trận và phải chạy khỏi đất nước. Chính quyền mới khả năng được dẫn dắt bởi lãnh tụ tối cao Hibatullah Akhundzada và quyền Thủ tướng Hasan Akhund, người đã nhậm chức vào ngày 7 tháng 9 năm 2021. Akhund là một trong bốn người sáng lập nên Taliban và từng là Phó Thủ tướng trong chính quyền Tiểu vương quốc trước đây; việc bổ nhiệm ông được xem như là một sự thỏa hiệp giữa hai phái trong nội bộ Taliban: phe ôn hòa và phe cứng rắn. Một nội các mới với toàn bộ thành viên đều là nam giới được thành lập, trong đó Abdul Hakim Ishaqzai giữ chức Bộ trưởng Tư pháp. Ngày 20 tháng 9 năm 2021, Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc António Guterres nhận được bức thư từ quyền Bộ trưởng Ngoại giao Amir Khan Muttaqi chính thức đề cử phát ngôn viên chính thức của Taliban tại Doha, Suhail Shaheen, đảm nhiệm vai trò đại sứ của Afghanistan tại Liên Hợp Quốc, và yêu cầu được phát biểu trước Đại Hội đồng. Trong thời gian nắm quyền trước đó của Taliban từ 1996 đến 2001, Liên Hợp Quốc chưa từng công nhận đại diện của tổ chức này và vẫn tiếp tục làm việc với chính phủ lưu vong lúc đó của Afghanistan.
Các nước phương Tây đã đình chỉ hầu hết hoạt động nhân đạo tại Afghanistan sau khi Taliban tiếp quản đất nước vào tháng 8 năm 2021, đồng thời Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế cũng ngưng các khoản thanh toán. Vào tháng 10 năm 2021, hơn một nửa trong số 39 triệu người tại Afghanistan phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực. Ngày 11 tháng 11 năm 2021, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền báo cáo rằng Afghanistan đang trải qua nạn đói diện rộng do khủng hoảng kinh tế và tài chính.
Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.