en

Burundi

quốc gia ở Đông Phi

Burundi

Burundi, quốc hiệu là Cộng hòa Burundi, là một quốc gia nội lục ở Đông Phi. Burundi nằm tại Thung lũng tách giãn Lớn ở giao điểm của vùng Hồ Lớn châu Phi và đông nam châu Phi, với dân số hơn 14 triệu người. Burundi giáp với Rwanda về phía bắc, Tanzania về phía đông và đông nam, và Cộng hòa Dân chủ Congo về phía tây; Hồ Tanganyika nằm dọc theo biên giới tây nam của Burundi. Thủ đô của Burundi là Gitega và thành phố lớn nhất, trung tâm kinh tế là Bujumbura.

Tên gọi

Tên gọi Burundi bắt nguồn từ Vương quốc Burundi (Urundi), một thực thể chính trị hình thành vào thế kỷ 16. Usumbura, thủ phủ của thuộc địa Burundi, chính thức đổi tên thành Bujumbura khi Burundi trở thành một nước độc lập vào năm 1962.

Lịch sử

Vào thế kỷ 15, những người du mục Tutsi (còn gọi là người Watutsi), được xem là một dân tộc từ Ethiopia đến, bắt đầu cuộc chinh phục người Hutu. Họ thành lập vương quốc Mwami và thống trị theo thể chế quân chủ chuyên chế. Những người châu Âu đầu tiên đến thám hiểm vùng hồ Tanganyika từ năm 1858.

Vùng lãnh thổ này bị sáp nhập vào Đông Phi thuộc Đức năm 1891 và cùng nước láng giềng tạo thành lãnh thổ Rwanda-Urundi đặt dưới sự ủy trị của Bỉ từ sau Chiến tranh thế giới thứ I.

Năm 1962, Burundi giành được độc lập và trở thành vương quốc dưới sự cai trị của Quốc vương Mwami Mwambutsa IV thuộc sắc tộc Tutsi. Cuộc nổi loạn của người Hutu diễn ra vào năm 1965 dẫn đến sự trả đũa man rợ của người Tutsi. Năm 1966, Mwambutsa bị con trai là Ntaré truất phế. Đến lượt người này, Quốc vương Ntaré, lại bị một sĩ quan người Tutsi là Michel Micombero lật đổ trong cùng năm ấy. Cuộc xung đột sắc tộc giữa người Hutu và nhóm thiểu số người Tutsi dẫn đến tàn sát lẫn nhau (1972-1973). Năm 1976, trung tá J. B. Bagaza chỉ huy nhóm sĩ quan người Tutsi lật đổ Tổng thống M. Micombero. Năm 1987, Tổng thống J. B. Bagaza bị một sĩ quan người Tutsi là P. Buyoya lật đổ trong cuộc đảo chính quân sự. Cuộc xung đột sắc tộc lại xảy ra năm 1988.

Tiến trình dân chủ hóa được xúc tiến từ năm 1988, cán cân quyền lực giữa người Hutu và người Tutsi được quân bình.

Hiến pháp năm 1992 thông qua thể chế đa đảng. Năm 1993, Melchi N'Dadaye, đại diện đầu tiên của người Hutu đắc cử Tổng thống, nhưng N'Dadaye bị quân đội thuộc nhóm người Tutsi ám sát. Người kế nhiệm là Tổng thống C. Ntaryamira cùng Tổng thống Juvénal Habyarimana của Rwanda bị chết trong vụ nổ máy bay tại thủ đô Kigali (Rwanda) năm 1994. Bạo lực lại bùng nổ giữa quân đội người Tutsi và người Hutu.

Năm 1996, quân đội tiến hành cuộc đảo chính và đưa Tổng thống P. Buyoya trở lại cầm quyền. Hơn 200.000 người bị giết kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu, cả quân đội người Tutsi và lực lượng nổi loạn người Hutu phải chịu trách nhiệm cuộc tàn sát này. Ông Nelson Mandela được chỉ định làm người trung gian hòa giải cho cuộc chiến này vào đầu năm 2000. Tháng 7 năm 2001, một Hiệp định hòa bình mong manh và thỏa thuận chia sẻ quyền lực được ký kết giữa Chính phủ và 18 phe nhóm chính trị, nhưng phe nổi loạn Hutu đấu tranh chống Chính phủ không đồng ý tham dự. Nội chiến lại tiếp tục trong năm 2002, những cố gắng nhằm ký một hiệp định ngừng bắn không đạt được thành công nào.

Tháng 7 năm 2005, Burundi đã bầu Hạ viện và Thượng viện theo chế độ đa đảng. Ngày 19 tháng 8 năm 2005, Hạ viện đã bầu ông Pierre Nkurunziza làm Tổng thống.

Địa lý

Burundi nằm ở Đông Phi, phía bắc giáp Rwanda, phía đông và nam giáp Tanzania, phía tây giáp Cộng hòa Dân chủ Congo và Hồ Tanganyika. Burundi là một quốc gia nội lục, phần lớn lãnh thổ là đồi núi và cao nguyên.

Khí hậu

Burundi có khí hậu xích đạo. Các vùng thấp ở rìa phía Bắc và phía Đông nóng ẩm, vùng cao nguyên và núi có khí hậu ôn hòa hơn. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 17 độ C đến 23 độ C. Lượng mưa trung bình khoảng 1.500 mm/năm, mùa mưa từ tháng 2 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 6 đến tháng 8 và từ tháng 12 đến tháng 1.

Môi trường

Năm 2020, diện tích rừng tại Burundi chiếm khoảng 11% tổng diện tích đất, tương đương 279.640 ha, tăng nhẹ so với 276.480 ha vào năm 1990. Trong đó, rừng tái sinh tự nhiên đạt 166.670 ha và rừng trồng là 112.970 ha. Khoảng 23% diện tích rừng tái sinh tự nhiên được xác định là rừng nguyên sinh. Khoảng 41% tổng diện tích rừng nằm trong các khu bảo tồn. Toàn bộ diện tích rừng được báo cáo là thuộc sở hữu công vào năm 2015.

Đất bị xói mòn do chăn thả quá mức và mở rộng nông nghiệp; nạn phá rừng (diện tích rừng bị thu hẹp do không kiểm soát được tình trạng khai thác gỗ bừa bãi); nguy cơ thú rừng bị tuyệt chủng do mất nơi cư trú.

Chính trị

Burundi là một nước cộng hòa tổng thống chế với một hệ thống đa đảng. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ. Hiện tại, có 21 chính đảng đăng ký hoạt động tại Burundi. Hiến pháp năm 1992 thiết lập một hệ thống đa đảng. Hiến pháp năm 1998 tăng số lượng thành viên Hạ viện và thiết lập hai chức vụ phó tổng thống.

Tổng thống được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 7 năm và có thể được tái cử 1 nhiệm kỳ. Tổng thống bổ nhiệm Phó Tổng thống và Thủ tướng để giúp thực hiện các công việc hằng ngày của Chính phủ. Chính phủ thực hiện quyền hành pháp. Quyền lập pháp được cả chính phủ và Quốc hội nắm giữ.

Quốc hội là cơ quan lập pháp lưỡng viện, gồm Hạ viện và Thượng viện. Hạ viện gồm 118 đến 123 thành viên, được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ năm năm. Hiến pháp Burundi quy định thành phần Hạ viện bao gồm 60% người Hutu, 40% người Tutsi và 30% phụ nữ, cùng với hai thành viên người Twa.

Thượng viện gồm 51 thượng nghị sĩ và ba ghế được dành riêng cho các cựu tổng thống. 30% số thượng nghị sĩ phải là phụ nữ. Các thượng nghị sĩ do các đại cử tri đoàn gồm các thành viên của mỗi tỉnh, xã của Burundi bầu ra. Mỗi tỉnh bầu ra một thượng nghị sĩ người Hutu và một thượng nghị sĩ người Tutsi. Nhiệm kỳ của Thượng viện là năm năm.

Tình hình chính trị xã hội của Burundi nhiều năm không ổn định do tranh giành quyền lực giữa hai bộ tộc chính người Hutu và Tutsi. Sau cuộc bầu cử năm 2005 đến nay, tình hình Burundi được cải thiện nhưng vẫn còn tồn tại những thách thức về an ninh và phát triển.

Phân cấp hành chính

Chính quyền thuộc địa Bỉ thành lập các tỉnh và xã của Burundi vào năm 1959, thay thế hệ thống tù trưởng địa phương cũ. Hiện tại, Burundi được chia thành năm tỉnh: Buhumuza, Bujumbura, Burunga, Butanyerera và Gitega. Tỉnh Bujumbura từng được chia thành hai tỉnh, Bujumbura Nông thôn và Bujumbura Thành thị. Các tỉnh được chia thành 119 xã và 3.044 collines (đồi).

Nhân quyền

Năm 2009, chính phủ Burundi cấm đồng tính luyến ái. Người nào có quan hệ cùng giới tự nguyện có thể bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm hoặc bị phạt tiền từ 50.000 đến 100.000 franc Burundi. Tổ chức Ân xá Quốc tế lên án quyết định của chính phủ Burundi là vi phạm các nghĩa vụ của Burundi theo luật quốc tế, các văn kiện nhân quyền khu vực và trái với điều khoản đảm bảo quyền được bảo vệ đời tư trong Hiến pháp Burundi.

Năm 2017, Burundi là quốc gia đầu tiên rời khỏi Tòa án Hình sự Quốc tế sau khi bị Liên Hợp Quốc cáo buộc phạm các tội ác, vi phạm nhân quyền như hành quyết phi pháp, tra tấn và bạo lực tình dục trong một báo cáo tháng 9 năm 2017. Tháng 11 năm 2017, Tòa án Hình sự Quốc tế thông báo sẽ truy tố những vi phạm nhân quyền trong thời gian Burundi còn là một nước thành viên.

Kinh tế

Trong giai đoạn năm 1993 – 1999, do các cuộc nội chiến liên miên và lệnh cấm vận của nước ngoài (1996), GDP của Burundi giảm đi 20%, tỷ lệ vốn đầu tư giảm từ 18% xuống còn 6% và lạm phát năm 1999 lên tới 21%. Cuộc nội chiến kết thúc cùng với tình hình chính trị ổn định đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và sự giúp đỡ từ bên ngoài. Tuy nhiên, nước này vẫn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn do tình trạng nghèo đói, thất học, sự yếu kém trong quản lý hành chính và hệ thống luật pháp còn lỏng lẻo.

Burundi là một nước nông nghiệp lạc hậu. Ngành kinh tế lớn nhất là nông nghiệp với trên 90% dân số sống bằng nghề nông. Burundi có các loại khoáng sản quý như kim cương, vàng, niken, coban, platin, urani, wolfram... thu nhập từ kim cương chiếm 10% tổng giá trị hàng xuất khẩu.

Burundi là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Công nghiệp kém phát triển chủ yếu là chế biến các sản phẩm nông nghiệp. Nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp chiếm khoảng 35% GDP và sử dụng hơn 90% dân số. Burundi xuất khẩu chính là cà phê và chè, chiếm 90% thu nhập ngoại tệ. Mặc dù GDP Burundi tăng khoảng 4% hàng năm từ 2006 đến nay, nhưng hiện tại, đang tiềm ẩn những yếu kém (tỷ lệ đói nghèo cao, hệ thống pháp luật yếu, mạng lưới giao thông kém, các tiện ích quá tải, và năng lực hành chính thấp...) mang đến nguy cơ phá hoại kế hoạch cải cách kinh tế của Chính phủ Burundi. Burundi đang phụ thuộc nhiều vào viện trợ từ các nhà tài trợ song phương và đa phương.

Burundi là nước nghèo tài nguyên, công nghiệp kém phát triển. Kinh tế chủ yếu dựa vào trồng trọt (cà phê, ngô, đậu, lúa miến, chè, bông vải, dầu cọ) và chăn nuôi (dê, cừu, bò). Khoảng 90% dân số sống nhờ vào nông nghiệp. Các mặt hàng xuất khẩu gồm cà phê, chè và chuối. Kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào xuất khẩu cà phê (chiếm đến 80% ngoại tệ thu được) Vì vậy khả năng thanh toán hàng hóa nhập khẩu không ổn định, tùy vào thị trường cà phê thế giới. Từ tháng 10 năm 1993, đất nước này trải qua những cuộc bạo động, xung đột lớn về sắc tộc làm khoảng 250.000 người chết và 800.000 người mất nhà cửa. Thực phẩm, thuốc men, điện nước không đủ đáp ứng.

- Tài nguyên thiên nhiên có kim cương, vàng, nikel, uranium, platinum, wolfram...

- Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 33,3%, Công nghiệp 21%, Dịch vụ 45,8%

- Mặt hàng xuất khẩu: chủ yếu là cà phê, chè, bông và đường.

- Mặt hàng nhập khẩu: gạo, vải vóc, xăng dầu, thực phẩm.

- Bạn hàng nhập khẩu: Ả Rập Xê Út, Kenya, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga.

- Bạn hàng xuất khẩu: Thụy Sĩ, EU, Pakistan, Rwanda, Ai Cập.

- Burundi hiện là thành viên các tổ chức kinh tế IMF, WTO, COMESA.

GDP: 1,469 tỉ USD (2010)

GDP bình quân đầu người: 131 USD (2010)

Tỷ lệ tăng trưởng GDP: 3,9% (2010)

Nhân khẩu

Tháng 10 năm 2021, Liên Hợp Quốc ước tính dân số của Burundi là 12.346.893 người, so với 2.456.000 người vào năm 1950. Tỷ lệ tăng trưởng dân số hàng năm là 2,5%, hơn gấp đôi mức trung bình thế giới. Một người phụ nữ Burundi trung bình có 5,0 con, hơn gấp đôi tỷ suất sinh thế giới. Burundi có tổng tỷ suất sinh cao thứ 10 trên thế giới vào năm 2021. Nhiều người Burundi đã di cư ra nước ngoài do cuộc nội chiến. Năm 2006, Hoa Kỳ tiếp nhận khoảng 10.000 người tị nạn Burundi.

Dân số Burundi chủ yếu sống ở nông thôn, trong khi 11% dân số sống ở khu vực đô thị vào năm 2010. Mật độ dân số khoảng 315 người trên mỗi km vuông, là nước có mật độ dân số cao thứ hai trong tiểu vùng Sahara. Khoảng 85% dân số là người Hutu, 15% là người Tutsi, và ít hơn 1% là người Pygmy. Burundi có mức sinh cao thứ năm trên thế giới, tại 6,08 con sinh ra / người phụ nữ (2012 ước tính).

Thành phố

=== Tôn giáo ===

Ước tính Kitô giáo chiếm 75% dân sô trong đó Công giáo La Mã là nhóm lớn nhất chiếm 60%. Tin Lành và Anh giáo chiếm 15% còn lại. Ước tính có khoảng 20% dân số tuân thủ các niềm tin tôn giáo bản địa truyền thống. Dân số Hồi giáo được ước tính ở mức 5%, đa số sống ở các vùng đô thị. Người Sunni chiếm đa số dân số Hồi giáo, còn lại là Shi'a.

Văn hóa

== Ghi chú ==

Đọc bài đầy đủ trên Wikipedia

Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.