en

Colombia

quốc gia tại Nam Mỹ

Colombia

Colombia (IPA: [koˈlombja] ), tên chính thức là Cộng hòa Colombia (tiếng Tây Ban Nha: República de Colombia; IPA: [re'puβ̞lika ð̞e ko'lombja] ) là một quốc gia tại Nam Mỹ. Colombia giáp Venezuela và Brasil về phía đông; giáp Ecuador và Peru về phía nam; giáp Đại Tây Dương phía bắc, qua Biển Caribe; và phía tây giáp Panama và Thái Bình Dương. Colombia là một nước lớn và đa dạng, lớn thứ 4 Nam Mỹ (sau Brasil, Argentina và Peru), với diện tích hơn gấp bảy lần New England; gấp đôi Pháp; chỉ nhỏ hơn một chút so với Arizona, California, Oregon và Washington cộng lại. với dân số 50 triệu người. Di sản văn hóa phong phú của Colombia phản ánh ảnh hưởng của các nền văn minh Amerindian khác nhau, định cư Châu Âu, nô lệ Châu Phi và nhập cư từ Châu Âu, Trung Đông và Đông Á. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính thức của quốc gia, bên cạnh đó có hơn 70 ngôn ngữ được sử dụng.

Colombia đã có nhiều người dân bản địa sinh sống từ năm 12.000 TCN, bao gồm người Muisca, Quimbaya và Tairona. Người Tây Ban Nha đã đặt chân đến đây đầu tiên tại La Guajira vào năm 1499 và vào giữa thế kỷ 16 đã biến khu vực thành thuộc địa, thành lập Vương quốc Tân Granada, với Santafé de Bogotá là thủ đô của nó. Độc lập khỏi Đế quốc Tây Ban Nha đã đạt được vào năm 1819. Quốc gia mới đã thử nghiệm chủ nghĩa liên bang với tư cách là Liên minh Granadine (1858), và sau đó là Liên minh Colombia (1863), trước khi Cộng hòa Colombia cuối cùng được tuyên bố vào năm 1886. Panama tách ra vào năm 1903, dẫn đến biên giới hiện tại của Colombia. Bắt đầu từ những năm 1960, đất nước này đã phải chịu một cuộc xung đột vũ trang và bạo lực chính trị cường độ thấp không đối xứng, cả hai đều leo thang vào những năm 1990. Từ năm 2005, đã có sự cải thiện đáng kể về an ninh, ổn định và pháp trị, cũng như sự tăng trưởng và phát triển kinh tế chưa từng có.

Colombia là một trong mười bảy quốc gia đa dạng nhất thế giới và có mức độ đa dạng sinh học cao thứ hai trên thế giới. Lãnh thổ của nó bao gồm rừng nhiệt đới Amazon, vùng cao, đồng cỏ và sa mạc, và đây là quốc gia duy nhất ở Nam Mỹ có bờ biển và đảo dọc theo cả đại dương Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Colombia là thành viên của các tổ chức toàn cầu và khu vực lớn bao gồm Liên hợp quốc, WTO, OECD, OAS, Liên minh Thái Bình Dương, Cộng đồng Andean và Đối tác toàn cầu của NATO. Nền kinh tế đa dạng của nó là lớn thứ ba ở Nam Mỹ, với sự ổn định kinh tế vĩ mô và triển vọng tăng trưởng dài hạn thuận lợi.

Nguồn gốc tên gọi

Tên gọi "Colombia" lấy theo tên của Christopher Columbus (Cristóbal Colón tiếng Tây Ban Nha, Cristóvão Colombo tiếng Bồ Đào Nha, Cristòfor Colom tiếng Catalan, Christophe Colomb tiếng Pháp, Cristoforo Colombo tiếng Ý). Nhà cách mạng người Venezuela Francisco de Miranda đã dùng tên này cho toàn bộ Tân Thế giới, nhất là các thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Sau đó, vào ngày 15 tháng 2 năm 1819, Hội nghị Angostura đã thống nhất đặt tên Cộng hòa Colombia cho một quốc gia mới bao gồm lãnh thổ của Tân Granada, Quito và Đại Trấn Venezuela, theo đề xuất của nhà cách mạng Simón Bolivar trong Bức thư từ Jamaica.

Năm 1830, khi Venezuela và Ecuador ly khai, phần còn lại của vùng Cundinamarca trở thành một quốc gia, Cộng hòa Tân Granada. Năm 1858 quốc gia này đã chuyển sang thể chế liên bang và đổi tên thành Liên bang Granadine; và sau đó năm 1863 đổi tên thành Hợp chúng quốc Colombia. Năm 1886 quốc gia này đã đổi thành tên như ngày nay: Cộng hòa Colombia. Ban đầu quốc hội hai nước Ecuador và Venezuela đã rất phản đối tên gọi này, cho rằng Colombia đã đơn phương chiếm đoạt một di sản lịch sử chung của cả khu vực, nhưng sau đó cuộc tranh cãi đã nhanh chóng kết thúc.

Lịch sử

=== Tiền Colombo ===

Khoảng năm 10000 trước Công Nguyên, các xã hội săn bắn hái lượm đã tổn tại gần nơi hiện là Bogotá (tại "El Abra" và "Tequendama") họ buôn bán với nhau và với các nền văn hóa sống dọc Châu thổ Sông Magdalena. Bắt đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, các nhóm người thổ dân đã phát triển các hệ thống chính trị gồm các "cacicazgo" với một cơ cấu quyền lực hình kim tự tháp đứng đầu là các tù trưởng. Bên trong Colombia, hai nền văn hóa có hệ thống cacicazgo phức tạp nhất là Tayrona tại vùng Caribe, và Muisca tại các cao nguyên quanh Bogotá, cả hai đều thuộc ngữ hệ Chibcha. Người Muisca được coi là đã sở hữu một trong những hệ thống chính trị phức tạp nhất tại Nam Mỹ, sau người Inca.

Thuộc địa

Những nhà thám hiểm Tây Ban Nha lần đầu khám phá vùng đất ven biển Caribe vào năm 1500 dưới sự lãnh đạo của Rodrigo de Bastidas. Christopher Columbus đã tới gần Caribe năm 1502. Năm 1508, Vasco Nuñez de Balboa bắt đầu chinh phục lãnh thổ này qua vùng Urabá. Năm 1513, ông cũng là người châu Âu đầu tiên khám phá Thái Bình Dương mà ông gọi là Mar del Sur (hay "Biển phương Nam"), con đường trên thực tế sẽ đưa những kẻ chinh phục Tây Ban Nha tới Peru và Chile. Năm 1525, thành phố châu Âu đầu tiên tại lục địa châu Mỹ được thành lập, là Santa María la Antigua del Darién tại Khu Chocó ngày nay. Dân số chủ yếu sống trên vùng này là hàng trăm bộ tộc Chibchan và "Karib", hiện được gọi là dân tộc Caribe, và người Tây Ban Nha đã dùng chiến tranh để chinh phục họ, bệnh dịch, công cuộc khai thác và chính cuộc chinh phục này đã đưa lại một thảm họa về nhân chủng làm giảm sút số lượng người bản xứ. Ở thế kỷ mười sáu, người châu Âu bắt đầu đưa nô lệ từ Châu Phi tới.

Độc lập

Từ đầu những giai đoạn Chinh phục và Thuộc địa, đã có nhiều phong trào phản kháng chống lại ách cai trị Tây Ban Nha, đa số chúng đều bị đàn áp hay quá yếu ớt để có thể mang lại sự thay đổi. Phong trào phản kháng cuối cùng, với mục tiêu đòi độc lập từ Tây Ban Nha, nổ ra khoảng năm 1810, sau khi St. Domingue giành độc lập năm 1804 (Haiti ngày nay), và nước này chỉ có thể cung cấp sự hỗ trợ nhỏ nhoi cho những lãnh đạo phong trào là: Simón Bolívar và Francisco de Paula Santander. Simón Bolívar đã trở thành tổng thống đầu tiên của Colombia/ Fransisco de Paula Santander là Phó tổng thống, và khi Simón Bolívar rút lui, Santander đã trở thành tổng thống thứ hai của Colombia. Cuộc nổi dậy cuối cùng đã giành thắng lợi năm 1819 khi lãnh thổ Phó vương quốc Tân Granada trở thành nhà nước Cộng hòa Đại Colombia được tổ chức thành một Liên minh cùng Ecuador và Venezuela (Panama từng là một phần của Colombia).

Tranh giành chính trị

Sự chia rẽ chính trị và lãnh thổ trong nội bộ đã dẫn tới sự ly khai của Venezuela và Quito (Ecuador ngày nay) năm 1830. Ở thời điểm này, cái gọi là "Khu Cundinamarca" đã chấp nhận cái tên "Nueva Granada", và giữ nó cho tới tận năm 1856 khi nó trở thành "Confederación Granadina" (Liên bang Granadine). Sau một cuộc nội chiến kéo dài hai năm năm 1863, "Liên bang Colombia" được thành lập và tồn tại tới năm 1886, khi cuối cùng đất nước này trở thành Cộng hòa Colombia. Sự chia rẽ nội bộ tiếp tục diễn ra giữa các lực lượng chính trị lưỡng đảng, thỉnh thoảng gây ra những cuộc nội chiến rất đẫm máu, nổi bật nhất là cuộc nội chiến nghìn ngày (1899 - 1902) cùng với những ý đồ của Mỹ nhằm thiết lập ảnh hưởng trong vùng (đặc biệt trong việc xây dựng và quản lý Kênh đào Panama) đã dẫn tới sự ly khai của Khu Panama năm 1903 và lãnh thổ này đã trở thành một quốc gia. Colombia sa lầy vào cuộc chiến tranh kéo dài một năm với Peru về tranh chấp lãnh thổ liên quan tới Khu Amazonas và thủ phủ Leticia của nó.

La Violencia

Một thời gian ngắn sau đó, Colombia có nền chính trị khá ổn định, và nó bị ngắt quãng bởi một cuộc xung đột đẫm máu xảy ra trong khoảng thời gian giữa cuối thập kỷ 1940 và đầu thập kỷ 1950, một giai đoạn được gọi là La Violencia ("Bạo lực"). Nguyên nhân của nó là sự căng thẳng gia tăng giữa hai đảng chính trị hàng đầu, cuối cùng đã bùng phát thành bạo lực sau vụ ám sát ứng cử viên Tổng thống Tự do Jorge Eliécer Gaitán ngày 9 tháng 4 năm 1948. Vụ ám sát này đã gây ra những cuộc bạo động tại Bogotá và được gọi là El Bogotazo, tình trạng bạo lực trong những cuộc bạo động lan tràn khắp đất nước và làm thiệt mạng ít nhất 180.000 người Colombia. Từ năm 1953 tới 1964 bạo lực giữa hai đảng chính trị giảm bớt thứ nhất bởi Tổng thống Gustavo Rojas Pinilla đã mất chức Tổng thống Colombia trong một cuộc đảo chính, cuộc đàm phán với phe du kích, và sự xuất hiện của hội đồng quân sự của Tướng Gabriel París Gordillo.

Mặt trận quốc gia

Sau khi Rojas đã mất chức, hai đảng chính trị Đảng Bảo thủ Colombia và Đảng Tự do Colombia đã đồng ý thành lập một "Mặt trận Quốc gia," theo đó hai đảng Tự do và Bảo thủ sẽ cùng điều hành đất nước. Chức tổng thống sẽ được thay thế lần lượt giữa hai đảng với nhiệm kỳ 4 năm trong vòng 16 năm tiếp diễn; hai đảng sẽ chia sẻ quyền lực tương đương ở mọi chức vụ nhà nước. Mặt trận Quốc gia đã chấm dứt "La Violencia", và chính phủ Mặt trận Quốc gia nỗ lực tiến hành các cuộc cải cách kinh tế, xã hội sâu rộng cùng với sự hợp tác của Liên minh vì Tiến bộ. Cuối cùng, những mâu thuẫn giữa các chính quyền Bảo thủ và Tự do nối tiếp nhau khiến kết quả không được như ý muốn. Dù có những tiến bộ ở một số lĩnh vực, nhiều vấn đề bất công xã hội và chính trị tiếp diễn và các nhóm du kích như FARC, ELN và M-19 chính thức thành lập chiến đấu chống chính phủ và các cơ quan chính trị với những ảnh hưởng từ các học thuyết của cuộc Chiến tranh lạnh.

Xung đột vũ trang Colombia

Cuối thập niên 1970 và trong suốt thập niên 1980, 1990 những tổ hợp ma tuý (drug cartel) giàu mạnh và đầy tính bạo lực xuất hiện, nổi tiếng nhất là Medellín Cartel (dưới sự chỉ huy của Pablo Escobar) và Cali Cartel, trong một giai đoạn đã gây ảnh hưởng tới chính trị, kinh tế và xã hội tại Colombia. Những tổ hợp này cũng đã tài trợ tiền bạc và gây ảnh hưởng tới các nhóm vũ trang bất hợp pháp và phe phái chính trị. Một số bên chống đối lại đã liên minh với các nhóm du kích tạo ra hay gây ảnh hưởng tới các nhóm bán quân sự.

Để thay thế hiến pháp năm 1886 trước đó, một hiến pháp mới đã được phê chuẩn năm 1991 (Hiến pháp Colombia năm 1991), sau khi được Hội đồng Lập hiến Colombia soạn thảo. Hiến pháp được thêm vào những điều khoản quan trọng về chính trị, sắc tộc, nhân quyền và bình đẳng nam nữ, chúng sẽ dần được thực hiện, dù tình trạng phát triển không đều, tranh cãi, và tụt hậu vẫn tồn tại. Hiến pháp mới cũng ngăn cấm hành động dẫn độ người mang quốc tịch Colombia sang Hoa Kỳ, các tổ hợp ma túy đã tiến hành vận động hành lanh tại Nghị viện và đưa ra một chiến dịch đe dọa vũ lực nhằm ngăn chặn sự phê chuẩn hành động dẫn độ. Nhiều cuộc tấn công khủng bố và hành quyết kiểu mafia đã diễn ra. Các tổ hợp ma túy cũng đã tìm cách gây ảnh hưởng tới chính phủ cũng như cơ cấu chính trị Colombia, như trường hợp vụ sandal Quy trình 8000.

Trong những thập kỷ gần đây nước này tiếp tục gặp phải khó khăn từ ảnh hưởng của các hoạt động buôn bán thuốc phiện và những cuộc chiến tranh du kích như của FARC, và các nhóm bán quân sự như AUC (hiện đã được giải ngũ nhưng một số thành viên vẫn còn hoạt động) cùng với các phe nhóm nhỏ khác đã tham dự vào cuộc xung đột vũ trang đẫm máu. Các tổ hợp ma túy giàu mạnh đã giúp Colombia cân bằng thương mại bằng cách tạo ra một luồng thu ngoại tệ lớn và ổn định, chủ yếu là dollar Mỹ. Mặt khác, các thủ lĩnh ma túy cũng làm bất ổn định chính phủ. Những cuộc nổi loạn của các nhóm khác nhau dẫn tới tình trạng sử dụng hành động bắt cóc và buôn lậu ma tuý để kiếm tiền hoạt động, chúng thường hoạt động tại các vùng nông thôn rộng lớn và hẻo lãnh và thỉnh thoảng có thể gây thiệt hại tới các hệ thống viễn thông và giao thông giữa các vùng. Từ đầu thập niên 1980, những nỗ lực nhằm đàm phán một thỏa thuận giữa chính phủ và các phe phiến loạn khác nhau đã được tiến hành, có trường hợp thành công có trường hợp chỉ một phần phe nổi dậy chịu giải giáp. Một trong những nỗ lực gần đây nhất đã diễn ra khi chính quyền của Tổng thống Andrés Pastrana Arango, đàm phán với FARC trong giai đoạn 1998 và 2002.

Cuối thập niên 1990, Tổng thống Andrés Pastrana đã đưa ra một sáng kiến gọi là Kế hoạch Colombia, với hai mục tiêu chấm dứt xung đột vũ trang và thúc đẩy một chiến lược chống ma tuý mạnh. Yếu tố gây tranh cãi nhất của Kế hoạch là chiến lược chống ma tuý, gồm việc tăng hoạt động phun thuốc tiêu diệt cây coca từ trên không. Hành động này bị nhiều phe phái phản đối, họ cho rằng phun thuốc diệt cây từ trên không cũng có thể gây hại tới các loại cây khác, và gây ra những hậu quả xấu tới sức khỏe người dân. Những lời chỉ trích sáng kiến này cũng cho rằng kế hoạch thể hiện một cách tiếp cận mang tính quân sự cho các vấn đề nảy sinh từ tình trạng bất bình đẳng trong xã hội.

Trong thời cầm quyền của Tổng thống Álvaro Uribe, người được bầu với lời hứa hẹn áp dụng các biện pháp quân sự với FARC và các nhóm tội phạm khác, một số chỉ số an ninh đã được cải thiện, như số vụ bắt cóc giảm (từ 3700 năm 2000 xuống còn 800 năm 2005) và các vụ giết người cũng giảm hơn 48% từ tháng 7 năm 2002 tới tháng 5 năm 2005. Có ý kiến cho rằng những thành công này đã khuyến khích phát triển kinh tế và ngành du lịch.

Những nhà phân tích và phê bình bên trong Colombia đồng ý rằng đã có một số tiến bộ trong nhiều lĩnh vực như đề cập ở trên, nhưng lý do mang lại thành công vẫn chưa được đồng thuận và tính chính xác của những con số cũng là một vấn đề. Một số phe đối lập đã chỉ trích chiến lược an ninh của chính phủ, cho rằng chúng chưa đủ để giải quyết các vấn đề phức tạp tại Colombia và rằng nó đã góp phần tạo nên một môi trường thích hợp cho sự tiếp diễn của một số vụ vi phạm nhân quyền.

Địa lý

Địa hình Colombia đa dạng hơn bất kỳ một quốc gia nào khác tại Mỹ Latinh có kích thước tương đương. Nước này là một phần của "Vành đai núi lửa" Thái Bình Dương, một vùng đặc trưng bởi những trận động đất thường xuyên và những vụ phun trào núi lửa.

Bề mặt địa hình Colombia khá phức tạp. phía tây đất nước là phần đa dạng nhất. Bắt đầu từ bờ biển Thái Bình Dương ở phía tây và dời về phía đông ở vĩ độ 5 độ bắc, một dải liên tục các hình thể địa hình nối tiếp nhau. Ở cực tây là những đồng bằng thấp ven biển Thái Bình Dương hẹp và đứt quãng, dựa vào Serranía de Baudó, dải núi thấp nhất và hẹp nhất Colombia. Tiếp theo là vùng đất thấp Río Atrato/Río San Juan rộng hơn, địa điểm từng được đề xuất như một vị trí thay thế cho Kênh đào Panama để trở thành con đường nối giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương nhân tạo.

Dãy núi lớn nhất phía tây, Cordillera Occidental, là một dải núi với độ cao trung bình, đỉnh cao nhất lên tới 4.000 m (13.000 ft). Châu thổ Sông Cauca, một vùng nông nghiệp quan trọng với nhiều thành phố bên trong, chia cắt Cordillera Occidental khỏi dải Cordillera Central to lớn. Nhiều núi lửa phủ băng tuyết tại Cordillera Central với các đỉnh cao hơn 5.500 m (18.000 ft). Châu thổ Sông Magdalena nhiều bùn và tốc độ dòng chảy nhỏ, một tuyến đường vận tải quan trọng, chia cắt Cordillera Central khỏi dãy núi chính phía đông, Cordillera Oriental. Các đỉnh của Cordillera Oriental có độ cao trung bình. Đặc điểm tạo sự khác biệt giữa những dãy núi này Colombia với những dãy núi khác là nó tạo ra nhiều lòng chảo lớn. Ở phía đông, nơi dân cư thưa thớt, các vùng đất thấp phẳng tới hơi gồ ghề được gọi là llanos chiếm tới 60 phần trăm tổng diện tích đất canh tác quốc gia.

Dải đất vắt ngang đất nước này không bao gồm hai vùng của Colombia: các vùng đất thấp ven biển Caribe và Sierra Nevada de Santa Marta, cả hai đều nằm ở phía bắc đất nước. Các vùng đất thấp phía tây chủ yếu là đầm lầy; các đầm lầy lau sậy trong vùng được người dâm Colombia gọi là ciénagas. Bán đảo Guajira ở phía đông là vùng bán khô cằn. Sierra Nevada là một tam giác đáng chú ý với những đỉnh núi phủ băng tuyết vượt cao lên trên phần phía đông của vùng đất thấp này.

Vị trí gần đường xích đạo của Colombia gây ảnh hưởng tới thời tiết nước này. Các vùng đất thấp thường nóng. Những ảnh hưởng độ cao trên nhiệt độ rất lớn. Nhiệt độ giảm khoảng 2°C (3.5°F) với mỗi 300-meter (1.000-foot) tăng độ cao so với mực nước biển. Lượng mưa khác biệt theo từng vùng tại Colombia, có xu hướng tăng khi đi về phía nam. Điều này đặc biệt đúng với các vùng đất thấp phía đông. Ví dụ, lượng mưa tại nhiều phần ở Bán đảo Guajira hiếm khi vượt quá 75 cm (30 in) trên năm. Tuy nhiên, khu vực nhiều mưa phía đông nam Colombia thường xảy ra những trận mưa lớn với lượng mưa hơn 500 cm (200 in) mỗi năm. Lượng mưa ở hầu hết các vùng còn lại của đất nước nằm giữa hai khoảng trên.

Độ cao không chỉ gây ảnh hưởng trên thời tiết, mà còn cả thực vật. Trên thực tế, độ cao là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng lớn nhất tới các loại thực vật tại Colombia. Các khu vực núi non có thể được chia thành nhiều khu vực thực vật theo độ cao, dù độ cao giới hạn của mỗi vùng có thể khác biệt phụ thuộc theo vĩ độ.

"Tierra caliente" (đất nóng), dưới 1.000 m (3.300 ft), là vùng đất với những thực vật nhiệt đới như chuối. Tierra templada (đất ôn hoà), trải dài từ độ cao 1.000 tới 2.000 m (3.300 tới 6.600 ft), là vùng trồng cà phê và ngô. Lúa mì và khoai tây được trồng nhiều tại "tierra fría" (đất lạnh), ở những độ cao từ 2.000 tới 3.200 m (6.600 tới 10.500 ft). Tại "zona forestada" (vùng rừng), nằm ở độ cao giữa 3.200 và 3.900 m (10.500 và 12.800 ft), nhiều loại cây đã bị chặt làm củi. Những đồng cỏ không cây cối bao phủ phần lớn páramos, hay những vùng đồng cỏ trên núi cao, ở độ cao 3.900 tới 4.600 m (12.800 tới 15.100 ft). Trên 4.600 m (15.100 ft), nơi nhiệt độ dưới mức đóng băng, là "tierra helada", một vùng thường có băng tuyết.

Thực vật cũng phản ánh lượng mưa. Vùng đất bán khô cằn phía đông bắc với chủ yếu những cây bụi rải rác. Ở phía nam, các savannah (đồng cỏ nhiệt đới) bao phủ phần llano Colombia. Các vùng nhiều mưa phía đông nam với những khu rừng mưa nhiệt đới. Tại vùng núi, là những mô hình thực vật phức tạp. Phía sườn núi nhiều mưa với màu xanh của cây cối sum sê, trong khi ở sườn bên kia, nơi ít mưa, có thể khô nẻ.

Canh tác Coca là hoạt động phi pháp chính tại Colombia. Ở nhiều vùng nông thôn, nhiều dải đất lớn được dùng trồng coca. Theo những con số của Hoa Kỳ, năm 2004 ước tính 114.100 hécta (281.947 acres) đất đã được sử dụng cho mục đích này, và đất nước này có tiềm năng sản xuất 430.000 mét tấn cocaine mỗi năm. According to a United Nations Office on Drugs and Crime survey, coca cultivation was estimated at 212.511 acres (86.000 hectares) in tháng 12 năm 2006.

Trong năm 2006 Chính phủ Colombia đã phá hủy khoảng 73.000 hécta (180.387 acres) vượt mọi kỷ lục trong trồng cây coca. Chính phủ Colombia hiện có kế hoạch phá hủy khoảng 50.000 hécta (123.553 acres) trồng cây coca năm 2007 và họ tuyên bố sẽ chỉ còn 20.000 hécta (49.421 acres) được dùng cho mục đích này, và chúng cũng sẽ bị tiêu diệt trong năm 2008. Tuy những nỗ lực tiêu diệt cây coca của Colombia đã khiến việc trồng cây phải chuyển địa điểm, chúng vẫn không hạn chế được số lượng diện tích sử dụng trồng loại cây này. [1] Việc này khiến mọi người nghi ngờ kế hoạch triệt hạ toàn bộ cây coca năm 2008 của Colombia.

Chính trị

Colombia theo chế độ Cộng hoà Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia và đứng đầu Chính phủ, được bầu trực tiếp nhiệm kỳ 4 năm và có thể tái cử ở nhiệm kỳ tiếp theo.

Nhánh hành pháp

Colombia là một nhà nước cộng hòa với nhánh hành pháp thống lĩnh cơ cấu chính phủ. Cho đến tận gần đây, tổng thống cùng phó tổng thống do dân bầu trực tiếp với nhiệm kỳ bốn năm; tổng thống vừa là lãnh đạo chính phủ vừa là lãnh đạo nhà nước. Tuy nhiên, ngày 19 tháng 10 năm 2005, Nghị viện Colombia đã sửa đổi hiến pháp, cho phép các tổng thống nước này cầm quyền hai nhiệm kỳ bốn năm liên tục. Tuy nhiên, các thống đốc khu, thị trưởng thành phố và thị trấn cùng các quan chức nhánh hành pháp khác chỉ được bầu cho một nhiệm kỳ ba năm, và không được tái ứng cử ngay sau đó.

Nhánh lập pháp

Hệ thống lưỡng viện Colombia là Nghị viện Colombia, (hay Congreso trong tiếng Tây Ban Nha), gồm Viện đại biểu Colombia với 166 ghế và Thượng viện Colombia với 102 ghế. Các thành viên của cả hai viện được bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ bốn năm. Cùng với các nghị sĩ, người dân Colombia cũng bầu các đại biểu Khu và các hội đồng thành phố.

Nhánh tư pháp

Trong thập niên 1990, hệ thống tư pháp Colombia đã trải qua nhiều cuộc cải cách quan trọng và hiện đang trong quá trình chuyển tiếp từ một hệ thống thẩm tra thành một hệ thống đối lập. Nhiều vùng trồng cà phê tại Colombia và Bogotá đã chấp nhận hệ thống đối lập, thủ tục áp dụng tại những khu vực còn lại sẽ bắt đầu ngày 1 tháng 1 năm 2006. Đứng đầu hệ thống tư pháp là Tòa án Hiến pháp và các thành viên được Nghị viện chỉ định dựa trên giới thiệu của Tổng thống và các viên chức cấp cao.

Các viện kiểm soát

Procuraduría General de la Nación (General Procurement of the Nation), Defensoría del Pueblo, (Bảo vệ Nhân dân) Auditoría General de la República (Kiểm toán công cộng chung) và Contraloría General de la República (Kiểm soát chung của nền cộng hoà).

Các viện bầu cử

Consejo Nacional Electoral (Hội đồng bầu cử quốc gia) và Registraduría Nacional del Estado Civil (Cơ quan đăng ký dân sự nhà nước)

Colombia cũng là một thành viên của Cộng đồng quốc gia Nam Mỹ

Chính sách ngoại giao

Colombia duy trì quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ, coi Mỹ là bạn hàng chính và nguồn cung cấp viện trợ quan trọng (khoảng 5 tỷ USD trong 8 năm qua, là nước nhận viện trợ nhiều nhất của Mỹ ở Mỹ Latinh). Mỹ tiếp tục thực hiện "Kế hoạch Colombia" thông qua tài trợ, cung cấp thiết bị quân sự dưới danh nghĩa chống ma túy và khủng bố. Tháng 8 năm 2009, Chính phủ Colombia ký thoả thuận cho phép Mỹ sử dụng 7 căn cứ quân sự trên lãnh thổ Colombia.

Bên cạnh đó, Colombia chú trọng thúc đẩy quan hệ với các nước Mỹ Latinh, thúc đẩy liên kết khu vực, từng tham gia tích cực vào các quá trình thương lượng hoà bình giải quyết các cuộc xung đột ở Trung Mỹ. Tuy nhiên, quan hệ với các nước Nam Mỹ, đặc biệt là Ecuador và Venezuela, thời gian qua vẫn căng thẳng, thậm chí gián đoạn sau sự kiện Colombia tấn công lực lượng du kích cánh tả trên lãnh thổ Ecuador (2008), ký thoả thuận quân sự với Mỹ (2009) và tố cáo Venezuela chứa chấp và trợ giúp du kích cánh tả (2009-2010)... Từ khi lên nắm quyền, Chính phủ của Tổng thống Santos bày tỏ thái độ mềm dẻo hơn với các nước láng giềng, nối lại quan hệ ngoại giao với Venezuela và Ecuador bị cắt đứt dưới thời Tổng thống Uribe (tháng 7 năm 2010). Colombia chủ trương đa dạng hoá quan hệ với các khu vực khác trên giới, trong đó có khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.

Colombia là thành viên của Liên Hợp Quốc, Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mỹ (OEA), hiện đang xin gia nhập APEC.

Đọc bài đầy đủ trên Wikipedia

Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.