en

Hungary

quốc gia có chủ quyền ở Trung Âu

Hungary

Hungary là một quốc gia nội lục ở Trung Âu. Có diện tích 93.030 kilômét vuông (35.920 dặm vuông Anh) thuộc lưu vực Carpathian, Hungary giáp với Slovakia về phía bắc, Ukraine về phía đông bắc, Romania về phía đông và đông nam, Serbia về phía nam, Croatia và Slovenia về phía tây nam, và Áo ở phía tây. Hungary là một quốc gia nội lục và có dân số 10 triệu người, chủ yếu là người Hungary và một dân tộc thiểu số Romani đáng kể. Tiếng Hungary, ngôn ngữ chính thức, thuộc ngữ hệ Ural được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới và nằm trong số ít các ngôn ngữ không thuộc Ấn-Âu được sử dụng rộng rãi ở châu Âu. Budapest là thủ đô và thành phố lớn nhất của Hungary; các khu vực đô thị lớn khác bao gồm Debrecen, Szeged, Miskolc, Pécs và Győr.

Lãnh thổ của Hungary ngày nay trong nhiều thế kỷ đã là nơi qua lại của nhiều dân tộc khác nhau, bao gồm người Celt, người La Mã, các sắc tộc Đức, người Hung, người Tây Slav và người Avar. Nền tảng của nhà nước Hungary được thành lập vào cuối thế kỷ thứ chín sau Công nguyên với cuộc chinh phục lưu vực Carpathian của hoàng tử Hungary Árpád. Cháu cố của ông là Stephen I lên ngôi vào năm 1000, chuyển đổi vương quốc của mình thành một vương quốc Kitô giáo. Đến thế kỷ 12, Hungary trở thành một cường quốc trong khu vực, đạt đến tầm cao văn hóa và chính trị vào thế kỷ 15. Sau Trận Mohács năm 1526, vương quốc này bị Đế chế Ottoman chiếm đóng một phần (1541–1699). Hungary nằm dưới sự cai trị của nhà Habsburg vào đầu thế kỷ 18, sau đó sát nhập với Đế quốc Áo để thành lập Đế quốc Áo-Hung, một cường quốc vào đầu thế kỷ 20.

Đế quốc Áo-Hung sụp đổ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Theo Hòa ước Trianon sau đó, Hungary mất 71% lãnh thổ, 58% dân số và 32% dân số sắc tộc Hungary. Sau thời kỳ hỗn loạn giữa các cuộc chiến, Hungary gia nhập phe Trục trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chịu thiệt hại và thương vong đáng kể. Việc Hungary dỡ bỏ hàng rào biên giới với Áo đã đẩy nhanh sự sụp đổ của Khối phía Đông, và sau đó là Liên Xô. Ngày 23 tháng 10 năm 1989, Hungary trở thành một nước cộng hòa đại nghị. Hungary gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 2004 và Khối Schengen vào năm 2007.

Hungary là một cường quốc tầm trung trên trường quốc tế, phần lớn là nhờ ảnh hưởng văn hóa và kinh tế. Hungary được coi là một nước phát triển với nền kinh tế thu nhập cao và xếp hạng "rất cao" trong Chỉ số phát triển con người, với công dân được chăm sóc sức khỏe toàn dân và giáo dục trung học miễn phí. Hungary có một lịch sử lâu đời với những đóng góp đáng kể về nghệ thuật, âm nhạc, văn học, khoa học và công nghệ. Đây là điểm đến du lịch nổi tiếng thứ 13 ở châu Âu, thu hút 15,8 triệu khách du lịch quốc tế vào năm 2017. Hungary là thành viên của nhiều tổ chức quốc tế, bao gồm Liên Hợp Quốc, NATO, WTO, Ngân hàng Thế giới, IIB, AIIB, Hội đồng châu Âu và Nhóm Visegrád.

Tên gọi

Chữ "H" trong tên gọi Hungary rất có thể bắt nguồn từ mối liên hệ lịch sử với người Hung, dân tộc định cư Hungary trước người Avar. Phần còn lại của tên gọi bắt nguồn từ dạng Latinh hóa của từ tiếng Hy Lạp Byzantine Oungroi (Οὔγγροι). Tên gọi trong tiếng Hy Lạp có thể đã được vay mượn từ tiếng Slav Giáo hội Cổ ągrinŭ mà chính nó được vay mượn từ tiếng Oghur-Turk Onogur ('mười [bộ lạc] Ogur'). Onogur là tên gọi chung của các bộ lạc sau này liên minh với người Bulgar cai trị các vùng phía đông của Hungary sau người Avar. Peter B. Golden cũng xem xét đề xuất của Árpád Berta rằng tên gọi Hungary bắt nguồn từ tiếng Turk Khazar ongar (oŋ "phải", oŋar- "to make something better, to put (it) right", oŋgar- "to make something better, to put (it) right", oŋaru "về bên phái") "cánh phải", đề cập đến ý tưởng rằng Liên hiệp Magyar trước khi người Hungary chinh phục Bồn địa Pannonia cấu thành "cánh phải" (cánh phía tây) của lực lượng quân sự người Khazar.

Nội danh của Hungary là Magyarország, bao gồm magyar ('Hungary') và ország ('quốc gia'). Tên gọi "Magyar", đề cập đến người dân của đất nước, phản ánh chính xác hơn tên gọi của Hungary trong một số ngôn ngữ khác như tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Ba Tư và những ngôn ngữ khác là Magyaristan hoặc Vùng đất của người Magyar hay tương tự. Từ magyar bắt nguồn từ tên của bộ lạc đứng đầu trong số bảy bộ lạc Hungary bán du mục lớn.

Lịch sử

=== Thời kỳ Tiền Magyar (trước năm 896) ===

Sau khi Đế chế Tây La Mã sụp đổ trước sự xâm nhập của các bộ tộc Đức và Carpath, nhiều dân tộc khác nhau đã di chuyển đến châu Âu sinh sống. Một trong số sớm nhất đó là người Hung, những người đã xây dựng hẳn một đế chế hùng mạnh tại châu Âu với vị thủ lĩnh nổi tiếng là vua Attila. Trước đây có ý kiến cho rằng Attila là vị vua đầu tiên khai sinh ra dân tộc Hungary nhưng ngày nay, nhiều ý kiến lịch sử lại cho rằng nguồn gốc tên gọi "Hungary" không phải đến từ bộ lạc du mục người Trung Á này mà bắt nguồn từ người Magyar (chính là người Hungary sau này) vào thế kỷ VII, lúc đó là một phần của Liên minh Bulgar với tên gọi On-Ogour, có nghĩa là "Mười Mũi Tên".

Sau khi đế chế của người Hung suy tàn, bộ tộc Đức Ostrogoth và sau đó là người Lombard đã đến vùng đồng bằng Pannonia, người Gepid đồng thời cũng hiện diện tại phía đông bồn địa Carpath trong vòng 100 năm. Vào khoảng năm 560, người Avar thành lập nước Avar Khaganate hùng mạnh, chinh phục các dân tộc láng giềng. Đất Hungary sau đó bị suy yếu bởi những cuộc chinh chiến liên miên rồi kết thúc sự tồn tại 250 năm sau đó khi người Frank dưới sự lãnh đạo của Charlemagne tiến vào chinh phục từ phía tây và người Bulgaria dưới sự lãnh đạo của Krum uy hiếp từ phía đông. Không một quốc gia nào được thành lập trên lãnh thổ Hungary sau đó cho đến khi Arpad, thủ lĩnh của người Magyar (Hungary) thống nhất các bộ lạc Magyar lại và tiến vào vùng đồng bằng Pannonia sinh sống năm 896.

Thời Trung Cổ (896-1526)

Hungary là một trong những quốc gia có lịch sử lâu đời nhất tại châu Âu. Đất Hungary được thành lập năm 996, trước khi những tiểu vương quốc ở Pháp hay Đức được thành lập và sớm hơn cả sự thống nhất các vương quốc Anglo-Saxon tại đảo Anh. Nước Hungary trung cổ có diện tích lớn hơn nước Pháp và dân số đứng hàng thứ ba tại châu Âu lúc bấy giờ. Vào thế kỷ IX, Arpad, một thủ lĩnh người Magyar đã thống nhất các bộ lạc Magyar lại rồi đưa họ vào vùng đồng bằng Pannonia sinh sống. Với một lực lượng quân đội hùng mạnh, người Hungary đã mở nhiều cuộc chiến tranh chinh phục và thậm chí đã từng tấn công sang tận Tây Ban Nha. Đến thời hoàng tử Geza, ông đã quyết định đưa Hungary tiến theo mô hình chính trị và xã hội của các nước Tây Âu và trở thành một quốc gia theo Công giáo.

Năm 1000 sau công nguyên, Vương quốc Hungary theo Công giáo được thành lập với sự kiện vua István I đăng quang với chiếc vương miện được gửi đến từ giáo hoàng. Ông là con trai của Geza và mang dòng máu của thủ lĩnh Arpad. Năm 1006, vua István I củng cố quyền lực, tiêu diệt những người đối lập theo truyền thống tôn giáo nguyên thủy hoặc định liên minh với Đế chế Byzantine. Ông hoàn thành việc biến Hungary thành một nhà nước phong kiến theo Công giáo, đồng thời mở rộng đáng kể lãnh thổ và dân cư.

Năm 1222, vua Hungary András II khởi xướng Bộ luật Vàng (Golden Bull) của Hungary, có thể coi như bản hiến pháp đầu tiên trên lục địa châu Âu và tương tự như Magna Carta tại Anh mà sau đó, tất cả các vua Hungary khi đăng quang phải tuyên thệ. Bộ luật Vàng này hạn chế bởi quyền hạn của nhà vua và mở rộng quyền lực của giới quý tộc, hợp pháp hóa quyền bất tuân lệnh cũng như các quyền lợi khác của họ. Sau đó không lâu, Nghị viện Hungary được thành lập.

Khoảng năm 1241-1242, Hungary bị tàn phá nặng nề trước sự xâm lăng hung hãn của quân Mông Cổ, lúc đó đang tấn công khắp nhiều vùng đất từ châu Á đến châu Âu. Các nhà sử học đã ước tính có khoảng một nửa trong số 2 triệu dân của Hungary bấy giờ đã thiệt mạng trong chiến tranh. Sau khi quân Mông Cổ rút đi, vua Béla IV đã củng cố lại sức mạnh phòng thủ của đất nước và cho xây dựng lại nhiều pháo đài bằng đá. Kết quả là khi người Mông Cổ lại sang xâm lấn năm 1286, họ đã bị hệ thống phòng thủ của người Hungary chặn lại và bị đánh thua tại Pest.

Vương triều Arpad tồn tại đến năm 1301 thì chấm dứt. Sau đó, vua Károly Róbert, người có họ ngoại với Arpad đã lên ngôi và trở thành vị vua đầu tiên của triều đại Angevin. Dưới sự cai trị của ông, nhiều chính sách tài chính và tiền tệ đã được tiến hành, thúc đẩy nền kinh tế Hungary phát triển, nhiều đô thị phát triển rực rỡ. Vị vua tiếp nới của triều đại Angevin là Lajos I Đại đế (1342-1382) đã đưa lãnh thổ Hungary mở rộng từ bờ Biển Đen đến biển Adriatic và sau đó còn trở thành vua của Ba Lan, tạo tiền đề cho mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước Hungary - Ba Lan.

Sau Ý, Hungary là quốc gia đầu tiên tại lục địa châu Âu xuất hiện phong trào Phục Hưng. Năm 1472, một xưởng in chính thức được thành lập tại thành phố Buda. Dưới triều vua Mátyás Corvin (1458-1490), Hungary trở thành một trung tâm văn hóa lớn của châu Âu. Thư viện Bibliotheca Corviniana là bộ sưu tập lớn nhất châu Âu các bộ biên niên sử, các tác phẩm triết học và khoa học trong thế kỷ XV. Thư viện này đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Vào cuối thế kỷ XV, vương quốc Hungary bắt đầu suy tàn dưới sự cai trị của vị vua bất tài Ulászló II. Năm 1514, một cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ tại Hungary nhưng sau đó bị giới quý tộc đàn áp đẫm máu. Trong khi đó, Đế chế Ottoman ngày một lớn mạnh và đem quân tấn công Hungary. Năm 1521, pháo đài quan trọng bậc nhất của Hungary tại Beograd ngày nay thất thủ, và đến năm 1526, quân đội Hungary bị tiêu diệt gần như toàn bộ trong trận Mohács. Cuộc cải cách tôn giáo diễn ra cùng thời gian đó tại châu Âu càng khiến Hungary trở nên hỗn loạn và tiến đến bờ vực sụp đổ.

Sự chiếm đóng của Ottoman (1526-1699)

Thất bại tại trận Mohács với sự kiện vua Lajos II tử trận đã mở đầu một thời kỳ hỗn loạn kéo dài tại Hungary. Giới quý tộc Hungary cùng lúc bầu lên hai vị vua là Ferdinand Habsburg (1526-1540) và János Szapolyai (1527-1540), hai bên xây dựng quân đội của riêng mình và đánh lẫn nhau khiến đất nước ngày càng suy yếu. Năm 1541, người Ottoman chinh phục được thành phố Buda và khiến Hungary vỡ thành ba mảnh: một phần ba ở phía tây bắc nằm dưới sự cai trị của triều đình Habsburg, một phần ba ở miền trung (thuộc lãnh thổ Hungary ngày nay) bị Ottoman và một phần ba ở phía đông trở thành Công quốc Transilvania, một nước lớn bán độc lập, chư hầu của Ottoman. Khoảng 150 năm sau đó, triều đình Habsburg đã giành toàn bộ quyền kiểm soát Hungary.

Trong thời gian này, thành phố Pozsony, tức Bratislava (thủ đô Slovakia ngày nay) đã trở thành thủ đô mới của Hungary. Thành phố Nagyszombat (nay là Trnava) trở thành một trung tâm tôn giáo lớn. Từ năm 1604 đến năm 1711, những cuộc chiến chống lại ách áp bức của người Áo cũng tăng lên, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Rakoczi Ferenc nhưng sau đó đã bị thất bại.

Từ thế kỷ 18 đến Chiến tranh thế giới thứ nhất (1699-1918)

Ngày 15 tháng 3 năm 1848, những cuộc biểu tình lớn nổ ra trên các đường phố Pest và Buda trong cao trào cách mạng tư sản đang lan khắp châu Âu năm 1848. Đối mặt với những cuộc nổi dậy liên tiếp ngay tại chính kinh đô Viên, triều đình Habsburg phải tạm thời chấp nhận những yêu cầu của người Hungary. Nhưng sau khi cuộc cách mạng tại Áo bị đàn áp, triều đình Habsburg kích động người Croatia, Serbia và Romania chống lại chính phủ Hungary. Chính phủ cách mạng của Hungary cũng nhận được sự ủng hộ của một bộ phận lớn người Slovak, Đức, Rusyn, Do Thái. Tướng János Damjanich, một người Serbia đã trở thành người anh hùng lịch sử của dân tộc Hungary khi lãnh đạo một đội quân cách mạng của Hungary. Lúc ban đầu, quân đội Hungary đã giành được một số thắng lợi bước đầu nhưng sau khi triều đình Habsburg cầu viện nước Nga, quân Nga hoàng đã tràn vào và dập tắt cuộc khởi nghĩa. Ngày 6 tháng 10 năm 1849, 13 vị tướng lĩnh trong quân đội cách mạng Hungary và thủ tướng Lajos Batthyany đã bị xử tử.

Sau khi Phổ đánh bại Áo bị năm 1866, để củng cố quyền lực của mình tại châu Âu, đế quốc Áo đã liên kết với vương quốc Hungary để thành lập Đế quốc Áo-Hung (năm 1867). Đế quốc Áo-Hung gồm 2 phần là Áo và Hungary, mỗi nước có chính phủ và các chính sách riêng biệt nhưng đều thuộc quyền cai trị của Hoàng đế Áo. Thời kỳ này, Vương quốc Hungary đã có những bước tiến ấn tượng về mặt kinh tế, bước đầu được công nghiệp hóa mặc dù cơ cấu kinh tế vẫn chủ yếu dựa trên nông nghiệp, còn khá lạc hậu so với các nước tư bản Tây Âu.

Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đế quốc Áo-Hung tham gia Liên minh Trung tâm của Đế quốc Đức, Vương quốc Bulgaria và Đế quốc Ottoman. Những khó khăn về kinh tế, các thất bại quân sự cũng như sự bất mãn của người dân khiến Đế quốc Áo-Hung sụp đổ hoàn toàn vào năm 1918, trên cơ sở đó hình thành các quốc gia mới là Áo, Tiệp Khắc và Hungary.

Giữa hai cuộc thế chiến (1918-1941)

Tháng 3 năm 1919, phe cộng sản giành chính quyền ở Hungary. Tháng 4, Béla Kun tuyên bố thành lập Cộng hòa Xô viết Hungary, tuy nhiên chính thể xô viết này chỉ tồn tại được một thời gian ngắn ngủi. Ngày 13 tháng 6 năm 1919, Hội nghị Hòa bình Versailles đã ra lệnh cho Hungary phải từ bỏ các lãnh thổ phía bắc và Romania phải rời khỏi Tiszántúl. Hungary tuân thủ mệnh lệnh đó tính cho đến ngày 30 tháng 6 năm 1919. Nhưng quân đội Romania từ chối rời khỏi Tiszántúl.

Chiến tranh nổ ra sau đó giữa Hungary và Romania dẫn tới thất bại của Hồng quân Hungary. Tính đến tháng 8 năm 1919, hơn một nửa của Hungary ngày nay, bao gồm cả Budapest, bị chiếm đóng bởi Romania. Sự chiếm đóng của quân Romania kéo dài đến tháng 11 năm 1919 khi quân đội Romania rút đi.

Lực lượng quân đội cánh hữu Hungary, lãnh đạo bởi cựu Đô đốc Áo-Hungary Miklós Horthy, tiến vào Budapest ngay sau khi quân đội Romania rút đi và lấp đầy chỗ trống của quyền lãnh đạo nhà nước. Vào tháng 1 năm 1920, bầu cử diễn ra để bầu một quốc hội đa nguyên. Đô đốc Horthy được bầu vào chức thủ tướng, do đó đã phục hồi lại chính thức hoàng gia Hungary. Tuy nhiên, không còn có "Vua của Hungary" nữa mặc cho các cố gắng của nhà cai trị Habsburg trước đó để trở lại vị trí nắm quyền. Horthy đã nắm quyền thủ tướng cho đến 16 tháng 10 năm 1944. Nhưng sau năm 1932, các xu hướng độc tài đã dần dần trở lại vì ảnh hưởng của chủ nghĩa Phát xít và Đại khủng hoảng.

Ngày 4 tháng 6 năm 1920, Hòa ước Trianon được ký kết, thiết lập các đường biên giới của Hungary. Hungary mất 71% lãnh thổ và khoảng 66% dân số. Khoảng 1/3 dân số người Hungary trở thành dân tộc thiểu số ở các nước lân cận. Hungary cũng mất cảng biển duy nhất tại Fiume (ngày nay là Rijeka). Do đó, việc khôi phục lãnh thổ trở thành một vấn đề quan trọng trong chính trị Hungary và văn hóa thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến. Xuyên suốt thời kì này kinh tế Hungary hết sức mất ổn định, tuy trở nên phồn thịnh sau chiến tranh nhưng lại tổn thất nặng trong và sau Đại khủng hoảng, và ổn định chỉ hơi ổn định một chút trước khởi đầu của Chiến tranh thế giới thứ hai. Hungary xích lại gần hơn Đức Quốc Xã và Phát xít Ý vào thập niên 1930 với cố gắng làm đảo ngược một số hậu quả của Hòa ước Trianon, với việc một số lãnh thổ bị mất trước kia được Đức và Ý nhượng lại cho Hungary.

Chiến tranh thế giới thứ hai (1941-1945)

Năm 1941, Hungary tham gia cuộc xâm lược Nam Tư, chiếm được một số đất đai và tham dự vào Phe Trục trong quá trình đó (để phản đối, thủ tướng Pál Teleki tự sát). Ngày 22 tháng 6 năm 1941, khi Đức Quốc Xã xâm lược Liên Xô trong Chiến dịch Barbarossa, Hungary tuyên chiến vào ngày 26 tháng 6, tham dự Chiến tranh thế giới thứ hai. Vào cuối năm 1941, quân Hungary ở Mặt trận phía đông chiến thắng tại Trận Uman. Đến năm 1943, sau khi Quân đoàn Hungary thứ 2 chịu thất bại nặng nề tại sông Don, Hungary tìm cách thương lượng đầu hàng Khối Đồng Minh. Ngày 19 tháng 3 năm 1944, để đối phó với sự trở mặt này, quân Đức lặng lẽ chiếm Hungary trong Chiến dịch Margarethe. Nhưng, đến bây giờ thì người ta biết rõ là người Hungary không muốn làm vệ tinh cho Đức. Vào ngày 15 tháng 10 năm 1944, Horthy cố gắng đưa Hungary ra khỏi cuộc chiến. Lúc này quân Đức mở Chiến dịch Panzerfaust và Horthy được thay thế bởi một nhà nước bù nhìn dưới quyền thủ tướng thân Đức Ferenc Szálasi. Szálasi và Đảng Mũi tên Chữ thập thân phát xít của ông ta trung thành với quân Đức cho đến hết cuộc chiến. Vào cuối năm 1944, quân Hungary ở Mặt trận phía đông lại chiến thắng một lần nữa ở trận Debrecen. Nhưng ngay lập tức sau đó là sự xâm lăng Hungary của quân độ Xô viết và trận Budapest. Trong khi quân Đức chiếm đóng vào tháng 5-6 năm 1944, Đảng Mũi tên Chữ thập và cảnh sát Hungary đã trục xuất gần 440.000 dân Do Thái, đa số là đến trại tập trung Auschwitz. Cuộc chiến đã làm Hungary thiệt hại nặng nề và tổn thất 60% nền kinh tế làm tổn thất nhiều nhân mạng. Vào 13 tháng 2 năm 1945, thành phố thủ đô Hungary đầu hàng không điều kiện. Vào 8 tháng 5 năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu chính thức chấm dứt.

Thời kỳ cộng sản (1945-1989)

Sau khi Đức Quốc Xã thất bại, quân đội Liên Xô tiến vào hầu hết Hungary. Chính phủ thân Đức bị giải tán, và qua ảnh hưởng của Liên Xô, Cộng hòa Nhân dân Hungary được thành lập như một nhà nước cộng sản thân Liên Xô. Sau năm 1948, lãnh đạo Cộng sản Rákosi Mátyás thiết lập chế độ kiểu Stalin với bắt buộc hợp tác xã hóa và kinh tế kế hoạch. Sự cầm quyền của nhà nước Rákosi đã vượt quá sức chịu đựng của người dân Hungary sau chiến tranh. Điều này đã dẫn tới cuộc chính biến tại Hungary 1956 và Hungary tạm thời rút lui khỏi Khối Warszawa. Liên Xô trả đũa mạnh mẽ với biện pháp vũ trang, gửi trên 150.000 quân và 2.500 xe tăng. Gần 200.000 người đã bỏ chạy khỏi đất nước để tránh chiến sự khi các biên giới để ngỏ vào năm 1956. Từ thập niên 1960 đến cuối thập niên 1980, tình hình trong nước Hungary tương đối yên tĩnh, kinh tế phát triển nhanh nhờ công nghiệp hóa. Trong thời kỳ này, đời sống nhân dân được cải thiện nhanh chóng, các ngành công nghiệp Hungary có sự phát triển nhanh. Điều này xảy ra dưới thời cầm quyền của nhà lãnh đạo mà vai trò còn nhiều tranh cãi, Kádár János. Binh lính Liên Xô cuối cùng rời Hungary vào năm 1991 và kết thúc sự hiện diện của quân đội Liên Xô ở Hungary.

Đệ Tam Cộng hòa Hungary (1989-nay)

Vào cuối thập niên 1980, Hungary dẫn đầu phong trào giải tán Khối Warszawa và chuyển sang một hệ thống đa đảng. Điều này nghĩa là mặc dù có nhiều ứng cử viên, Đảng Công nhân Xã hội chủ nghĩa Hungary vẫn không được đem ra bàn cãi. Tuy nhiên, các ứng cử viên độc lập được bầu lên để phản đối lại đảng. Vào thời điểm đó, áp lực cải cách tăng dần từ bên trong đảng. Họ cũng di chuyển theo hướng kinh tế thị trường. Ngày 23 tháng 10 năm 1989, Mátyás Szűrös tuyên bố thành lập Đệ Tam Cộng hòa Hungary và trở thành tổng thống lâm thời. Cuộc bầu cử đa đảng ở Hungary diễn ra lần đầu tiên vào năm 1990. Sau khi Liên Xô giải thể vào năm 1991, Hungary tăng cường mối quan hệ với Tây Âu và các nước Trung Âu. Hungary trở thành một thành viên Nhóm Visegrád vào năm 1991, gia nhập NATO vào năm 1999, và trở thành một nước thành viên Liên minh châu Âu vào ngày 1 tháng 5 năm 2004.

Kể từ khi Orbán đắc cử vào năm 2010, Hungary bước vào giai đoạn suy thoái dân chủ. Dưới sự lãnh đạo của ông, giới quan sát mô tả Hungary bằng nhiều thuật ngữ như nền dân chủ phi tự do, chế độ hỗn hợp, chế độ đạo tặc, hệ thống đảng trị ưu thế, hay nhà nước mafia. Bản thân Orbán cũng công khai ủng hộ các giá trị phi tự do, và định danh Hungary là một nền "dân chủ Kitô giáo phi tự do".

Những biến chuyển này đẩy quan hệ giữa Hungary với Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu vào tình trạng căng thẳng kéo dài. Nhiều cơ quan Liên minh châu Âu và các nước thành viên tìm cách áp đặt lệnh trừng phạt hoặc đình chỉ quyền biểu quyết của Hungary trong khối. Các điểm nóng tranh chấp bao gồm quyền LGBT, khủng hoảng di cư, đạo luật trục xuất Đại học Trung Âu khỏi Hungary, việc Hungary phê duyệt các loại vắc-xin của Nga và Trung Quốc trong đại dịch COVID-19, và các lệnh trừng phạt quốc tế đối với Nga liên quan đến cuộc xâm lược Ukraina. Đồng thời, chính quyền Orbán cũng bị những nước phương Tây khác chỉ trích gay gắt về các vấn đề pháp quyền, mặc dù chính phủ luôn bác bỏ các cáo buộc này.

Trong cuộc bầu cử Quốc hội Hungary 2026, Đảng Tôn trọng và Tự do do Magyar Péter dẫn dắt giành chiến thắng áp đảo với hai phần ba số ghế, chấm dứt 16 năm cầm quyền của Fidesz.

Địa lý

Hungary nằm ở Trung Âu, giáp Slovakia về phía bắc, Ukraina và România về phía đông, Serbia và Croatia về phía nam, Slovenia và Áo về phía tây. Địa lý của Hungary theo truyền thống được xác định bởi hai con sông chính: sông Danube và sông Tisza. Hungary được chia thành ba miền địa lý: Dunántúl ("vượt qua sông Danube", Transdanubia), Tiszántúl ("ngoại Tisza"), và Duna-Tisza köze ("giữa sông Danube và Tisza"). Dòng Danube chảy theo hướng bắc-nam thông qua trung tâm Hungary hiện tại, và cả Hungary nằm trong lưu vực thoát nước.

Transdanubia, trải dài về phía tây trung tâm của đất nước cho đến Áo, là một vùng đồi núi chủ yếu với địa hình đa dạng bởi các ngọn núi thấp. Chúng bao gồm dải Alps ở phía đông, Alpokalja ở phía tây của đất nước. Dãy núi Transdanubian ở vùng trung tâm Transdanubia, dãy núi Mecsek và dãy núi Villány ở phía nam. Các vùng đồng bằng Alfold ở bắc Transdanubia. Hồ Balaton và hồ Hévíz là các hồ lớn nhất ở Trung Âu và hồ nhiệt đới lớn nhất trên thế giới, cũng như ở Transdanubia. Kisalfold trải dài trên hầu hết các khu vực phía đông và đông nam của đất nước. Phía bắc của vùng đồng bằng là chân núi Carpathians gần biên giới Slovakia. Kékes là ngọn núi cao nhất ở Hungary với độ cao 1.014 m. Theo WWF, lãnh thổ của Hungary thuộc vùng sinh thái của rừng hỗn giao Pannonian.

Hungary có 10 vườn quốc gia, 145 khu bảo tồn thiên nhiên nhỏ và 35 khu bảo vệ cảnh quan.

Khí hậu

Hungary có khí hậu ôn đới theo mùa, mùa hè thường ấm với độ ẩm thấp, thường xuyên mưa rào và mùa đông lạnh, tuyết. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 9,7 °C (49,5 °F). Nhiệt độ cao kỷ lục là 41,9 °C (107,4 °F), được ghi nhận vào ngày 20 tháng 7 năm 2007 ở Kiskunhalas vào mùa hè, nhiệt độ thấp kỷ lục là −35 °C (−31,0 °F), được ghi nhận vào ngày 16 tháng 2 năm 1940 ở Miskolc vào mùa đông. Nhiệt độ cao trung bình vào mùa hè là 23 đến 28 °C (73 đến 82 °F) và nhiệt độ thấp trung bình là −3 đến −7 °C (27 đến 19 °F). Lượng mưa trung bình hàng năm là xấp xỉ 600 mm (23,6 in).

Chính trị

Hungary là một nước cộng hòa đại nghị. Luật cơ bản Hungary (tiếng Hungary: alaptörvény) là hiến pháp hiện hành, được ban hành vào năm 2012.

Quốc hội (Országgyűlés) là cơ quan lập pháp đơn viện, gồm 199 đại biểu Quốc hội (országgyűlési képviselők, số ít képviselő) được bầu trực tiếp, trong đó 106 đại biểu được bầu từ các đơn vị bầu cử một thành viên theo đầu phiếu đa số tương đối, 93 đại biểu được bầu từ toàn quốc theo đại diện tỷ lệ với ngưỡng bầu cử 5% đối với liên danh một đảng, 10% đối với liên danh của liên minh hai đảng và 15% đối với liên danh của liên minh từ ba đảng trở lên. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội là bốn năm.

Tổng thống (köztársasági elnök) là nguyên thủ quốc gia, do Quốc hội bầu ra với nhiệm kỳ năm năm. Tổng thống thực hiện những nhiệm vụ mang tính nghi lễ: tiếp đón nguyên thủ quốc gia nước ngoài, đề cử thủ tướng theo đề nghị của Quốc hội và là tổng tư lệnh Lực lượng Phòng vệ Hungary. Tuy nhiên, tổng thống sở hữu một số thực quyền; tổng thống có quyền phủ quyết luật của Quốc hội và yêu cầu Tòa án Hiến pháp xem xét tính hợp hiến của đạo luật. Chức danh cao thứ ba của Hungary là chủ tịch Quốc hội (házelnök), do Quốc hội bầu ra trong số đại biểu Quốc hội và chủ trì các phiên họp của Quốc hội.

Thủ tướng (miniszterelnök) là người đứng đầu chính phủ và thực hiện quyền hành pháp, do Quốc hội bầu ra. Theo thông lệ, thủ tướng là lãnh đạo của đảng lớn nhất trong Quốc hội. Thủ tướng lựa chọn, miễn nhiệm bộ trưởng Nội các, nhưng người được lựa chọn phải tham dự phiên tham vấn của ủy ban của Quốc hội, được Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm và được tổng thống chính thức bổ nhiệm. Bộ trưởng không cần phải là đại biểu Quốc hội. Nội các báo cáo công tác trước Quốc hội.

Các đảng phái chính

Sau Cách mạng 1989, Hungary có một hệ thống đa đảng. Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 2022, liên minh Fidesz–KDNP duy trì đa số hai phần ba số ghế trong Quốc hội. Sau cuộc bầu cử Quốc hội năm 2026, Đảng Tôn trọng và Tự do trở thành đảng cầm quyền, chấm dứt 16 năm cầm quyền của Fidesz và Orbán Viktor.

Phân cấp hành chính

Hungary được chia thành 19 hạt (megye). Ngoài ra, Budapest, là một thực thể độc lập, không thuộc bất cứ tỉnh nào. Các hạt và thủ đô là 20 đơn vị NUTS cấp 3 của Hungary. Các tỉnh được chia thành 174 quận (járás) tính đến ngày 1 tháng 1 năm 2013. Ngoài ra còn có 23 thị trấn có quy chế cấp quận (megyei jogú város). Chính quyền địa phương của các thị trấn này được mở rộng quyền hạn, nhưng các thị trấn này thuộc về lãnh thổ của quận tương ứng thay vì là các đơn vị lãnh thổ độc lập. Hội đồng quận và các đô thị có vai trò khác nhau và trách nhiệm riêng biệt liên quan đến chính quyền địa phương. Vai trò của các quận về cơ bản là hành chính và tập trung vào phát triển chiến lược, trong khi các trường mẫu giáo, các công trình nước công cộng, xử lý rác thải, chăm sóc người cao tuổi và các dịch vụ cứu hộ được quản lý bởi các đô thị.

Từ năm 1996, các quận trên và thành phố Budapest đã được gộp lại thành 7 vùng nhằm mục đích thống kê và phát triển. Bảy khu vực này tạo thành các đơn vị cấp hai của NUTS ở Hungary, bao gồm: Vùng Trung tâm Hungary, vùng Trung Transdanubia, vùng Bắc Đồng bằng Lớn, vùng Bắc Hungary, vùng Nam Transdanubia, vùng Nam Đồng bằng lớn, và vùng Tây Transdanubia.

Đối ngoại

Hungary có ảnh hưởng đáng kể ở Trung và Đông Âu và là một cường quốc trong các vấn đề quốc tế. Các chính sách đối ngoại của Hungary được dựa trên bốn cam kết cơ bản: Hợp tác với các nước Đại Tây Dương, hội nhập châu Âu, phát triển quốc tế và tuân theo luật pháp quốc tế. Nền kinh tế Hungary khá cởi mở và dựa rất nhiều vào thương mại quốc tế.

Hungary là thành viên Liên Hợp Quốc kể từ tháng 12 năm 1955 và là thành viên Liên minh châu Âu, NATO, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, Nhóm Visegrád, Tổ chức Thương mại Thế giới, Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng châu Á và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Hungary đảm nhận vị trí chủ tịch Hội đồng Liên minh châu Âu trong nửa năm vào năm 2011 và tiếp theo là vào năm 2024. Năm 2015, Hungary là nhà tài trợ phát triển Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, DAC lớn thứ năm trên thế giới, chiếm 0,13% GDP.

Budapest có hơn 100 đại sứ quán và cơ quan đại diện ngoại giao của nước ngoài. Đây cũng là nơi đặt trụ sở chính nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có Viện Đổi mới và Công nghệ châu Âu, Trường Cao đẳng Cảnh sát châu Âu, Cao ủy Liên Hợp Quốc về người tị nạn, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, Trung tâm Quốc tế về chuyển đổi Dân chủ, Viện Giáo dục Quốc tế, Tổ chức Lao động Quốc tế, Tổ chức Di trú Quốc tế, Phong trào Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế, Trung tâm môi trường khu vực Trung và Đông Âu, Ủy ban Danube và các tổ chức khác.

Từ năm 1989, mục tiêu chính sách đối ngoại hàng đầu của Hungary đã đạt được sự hội nhập vào các tổ chức kinh tế và an ninh phương Tây. Hungary tham gia chương trình Đối tác vì Hòa bình vào năm 1994 và tích cực hỗ trợ các nhiệm vụ hòa bình ở Bosna. Hungary từ năm 1989 cũng cải thiện mối quan hệ láng giềng bằng cách ký kết các hiệp ước cơ bản với România, Slovakia và Ukraina. Những điều này từ bỏ tất cả các yêu sách lãnh thổ nổi bật và đặt nền tảng cho các mối quan hệ mang tính xây dựng. Tuy nhiên, vấn đề về quyền dân tộc thiểu số Hungary ở România, Slovakia và Serbia khiến căng thẳng song phương bùng lên. Kể từ năm 2017, quan hệ với Ukraina nhanh chóng xấu đi về vấn đề người Hungary ở Ukraina. Hungary từ năm 1989 đã ký kết tất cả các hiệp ước liên quan đến OSCE và làm Chủ tịch Văn phòng của OSCE vào năm 1997.

Quân sự

Lực lượng Phòng vệ Hungary là lực lượng vũ trang của Hungary, gồm Lục quân Hungary (HDF) và Không quân Hungary. Lực lượng Phòng vệ do Bộ Quốc phòng cùng với tổng tham mưu trưởng quản lý. Từ năm 2007, Lực lượng Phòng vệ Hungary tổ chức cơ cấu chỉ huy thống nhất. Bộ Quốc phòng lãnh đạo Lực lượng Phòng vệ về mặt chính trị và dân sự. Bộ Tư lệnh Liên quân trực thuộc Bộ Quốc phòng phối hợp và chỉ huy Lực lượng Phòng vệ. Năm 2016, Lực lượng Phòng vệ Hungary có 31.080 quân nhân tại ngũ và 18.920 quân nhân dự bị. Ngân sách quốc phòng năm 2017 dự kiến là 1,21 tỷ đô la Mỹ, tương đương 0,94% GDP của Hungary, dưới mục tiêu 2% của NATO. Năm 2012, chính phủ Hungary thông qua nghị quyết cam kết tăng ngân sách quốc phòng lên 1,4% GDP trước năm 2022.

Đọc bài đầy đủ trên Wikipedia

Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.