en

Papua New Guinea

quốc gia ở châu Đại Dương

Papua New Guinea

Papua New Guinea (tiếng Tok Pisin: Papua Niugini; Hiri Motu: Papua Niu Gini; phiên âm tiếng Việt: Pa-pu-a Niu Ghi-ni), quốc hiệu là Nhà nước Độc lập Papua New Guinea là một quốc gia quần đảo ở châu Đại Dương bên bờ Thái Bình Dương, gồm phía Đông của đảo New Guinea và nhiều đảo xa bờ biển (phía Tây của New Guinea là hai tỉnh Papua và Tây Papua của Indonesia). Papua New Guinea nằm vào phía Tây Nam Thái Bình Dương, ở một vùng được gọi là Melanesia từ đầu thế kỷ 19. Thủ đô và thành phố lớn nhất của Papua New Guinea là Port Moresby.

Papua New Guinea là một trong những quốc gia có nhiều dân tộc nhất trên thế giới, với hơn 850 ngôn ngữ thổ dân và nhiều dân tộc như vậy, nhưng chỉ vào khoảng 5 triệu người. Đây cũng là một trong những nước có dân số sống tại nông thôn nhiều nhất, chỉ 18% người sống ở những trung tâm thành thị. Đây cũng là nước ít được thám hiểm nhất trên thế giới, không chỉ về địa lý mà còn về văn hóa, nhiều loài động thực vật được cho là chỉ có ở Papua New Guinea.

Tên gọi

Papua là một từ ngữ dùng để chỉ dạng tóc xoăn tít của dân bản xứ, New Guinea có nghĩa là "Ghi-nê mới" (Tân Ghi-nê). Một nhà thám hiểm đã tình cờ phát hiện ra thổ dân trên hòn đảo này, nhưng ông lại ngạc nhiên vì thổ dân ở đây giống với người da đen ở Guinée nhưng có mái tóc xoăn tít (người Guinea không có tóc xoăn như thế) và lại ở rất xa Guinea, nên ông đặt tên cho thổ dân mới phát hiện là Papua New Guinea (người Ghi-nê tóc xoăn tít). Và cái tên đó trở thành tên quốc gia.

Địa lý

Với diện tích 462,840 km², Papua New Guinea là nước rộng thứ 54 trên thế giới.

Papua New Guinea chủ yếu là núi non (đỉnh cao nhất là Núi Wilhelm độ cao 4,509 m; 14,793 ft) và chủ yếu được bao phủ bởi những cánh rừng mưa nhiệt đới, cũng như những khu vực đất ướt rất rộng bao quanh các con sông Sepik và Fly.

Papua New Guinea được bao quanh bởi các rặng san hô ngầm đang được quản lý chặt chẽ để bảo tồn.

Nước này nằm trên Vành đai Núi lửa Thái Bình Dương, ở điểm va chạm của nhiều đĩa kiến tạo. Có một số núi lửa đang hoạt động, và những vụ phun trào thường xuyên xảy ra. Động đất cũng là điều thường thấy, thỉnh thoảng đi kèm với các trận sóng thần.

Vùng lục địa của quốc gia là nửa phía đông của đảo New Guinea, nơi có các thị trấn lớn nhất, gồm cả thủ đô Port Moresby và Lae; các hòn đảo lớn khác của Papua New Guinea gồm New Ireland, New Britain, Manus và Bougainville.

Papua New Guinea là một trong số ít khu vực gần xích đạo có tuyết rơi, xảy ra ở những nơi có độ cao lớn trong lục địa.

Sinh thái

Papua New Guinea là một phần của vùng sinh thái Australasia, gồm cả Úc, New Zealand, đông Indonesia, và nhiều nhóm đảo Thái Bình Dương, gồm cả Quần đảo Solomon và Vanuatu.

Về địa lý, hòn đảo New Guinea là nhánh mở rộng phía bắc của đĩa kiến tạo Indo-Australian, hình thành một phần của một lục địa duy nhất Úc-New Guinea (cũng được gọi là Sahul hay Meganesia). Nó được nối với mảng Úc bởi một thềm lục địa nông qua Eo biển Torres, ở những thời cổ đại còn nổi lên như một cầu lục địa — đặc biệt trong những kỷ băng hà khi mực nước biển thấp hơn hiện tại.

Vì thế, nhiều giống chim và thú có vú ở New Guinea có những quan hệ gene chặt chẽ với các giống loài tương tự ở Úc. Đặc trưng chung nhất của hai phía là sự tồn tại của nhiều loài động vật có vú có túi, gồm kangaroo và possum, không có ở bất kỳ nơi nào khác.

Nhiều hòn đảo khác bên trong lãnh thổ Papua New Guinea, gồm cả New Britain, New Ireland, Bougainville, Đảo Đô đốc, Đảo Trobriand, và Quần đảo Louisiade, chưa bao giờ được kết nối với New Guinea bằng những cầu lục địa, và chúng không có nhiều loài động vật có vú và những loài chim không bay được vốn thường thấy tại New Guinea và Úc.

Úc và New Guinea là những phần của siêu lục địa cổ Gondwana, bắt đầu tan rã thành những lục địa nhỏ hơn ở thời kỳ Cretaceous, 65-130 triệu năm trước. Úc cuối cùng tách hoàn toàn khỏi Nam Cực khoảng 45 triệu năm trước. Toàn bộ các vùng đất của Australasia là nơi sinh sống của quần thực vật Nam Cực, có nguồn gốc từ quần thực vật của nam Gondwana, gồm cả podocarps họ tùng bách và các loài thông Araucaria, và sồi miền nam (Nothofagus) lá rộng. Những họ cây này vẫn hiện diện tại Papua New Guinea.

Bởi đĩa kiến tạo Indo-Australian (gồm các lục địa Ấn Độ, Úc, và thềm Ấn Độ Dương ở giữa) trôi về phía bắc, nó va chạm với Đĩa Âu Á, và sự va chạm của hai đĩa đã đẩy lên dãy Himalayas, các đảo Indonesia và Rặng Trung tâm của New Guinea. Rặng Trung tâm trẻ và cao hơn các ngọn núi của Úc, cao tới mức nó có một số sông băng hiếm ở xích đạo. New Guinea là một phần của chí tuyến ẩm, và nhiều loài thực vật thuộc rừng mưa nhiệt đới Indomalaya, trải dài suốt các eo biển hẹp từ châu Á, pha trộn với hệ thực vật Úc và Antarctic cổ.

Các vùng sinh thái trên cạn

Papua New Guinea gồm một số vùng sinh thái trên cạn:

Rừng nhiệt đới đất thấp Đảo Đô đốc

Rừng mưa núi Rặng Trung tâm

Rừng mưa núi Bán đảo Huon

Rừng mưa Quần đảo Louisiade

Rừng mưa đất thấp New Britain-New Ireland

Rừng mưa núi New Britain-New Ireland

Đước New Guinea

Rừng đầm lầy nước ngọt và rừng mưa đất thấp Bắc New Guinea

Rừng mưa núi Bắc New Guinea

Rừng mưa Quần đảo Solomon (gồm Bougainville và Buka)

Rừng mưa Đông Nam Papuan

Rừng đầm lầy nước ngọt Nam New Guinea

Rừng mưa đất thấp Nam New Guinea

Rừng mưa Đảo Trobriand

Đồng cỏ và savanna Xuyên Fly

Đồng cỏ sub-alpine Rặng Trung tâm

Lịch sử

Những di cốt con người đã được tìm thấy có niên đại từ khoảng 50,000 năm trước. Những cư dân cổ xưa này có lẽ có nguồn gốc ở Đông Nam Á, người Đông Nam Á lại có nguồn gốc từ châu Phi 50,000 tới 70,000 năm trước. New Guinea là một trong những vùng đất đầu tiên sau châu Phi và Âu Á là nơi có người hiện đại sinh sống, với cuộc di cư đầu tiên ở cùng khoảng thời gian cuộc di cư của Úc. Nông nghiệp độc lập phát triển tại các vùng cao nguyên New Guinea khoảng năm 7,000 trước Công Nguyên, khiến đây là một trong số ít khu vực thực hiện thuần hoá thực vật nguyên thủy của thế giới. Một cuộc di cư lớn của những người nói ngôn ngữ Nam Đảo tới các vùng ven biển khoảng 2,500 năm trước, và nó trùng khớp với sự xuất hiện của đồ gốm, lợn, và một số kỹ thuật đánh cá. Gần đây hơn, khoảng 300 năm trước, khoai lang đã du nhập vào New Guinea từ Moluccas từ Nam Mỹ bởi đế chế thuộc địa thống trị vùng đất này khi ấy, Bồ Đào Nha. Sản lượng thu hoạch cao hơn rất nhiều từ khoai lang đã biến đổi toàn bộ nền nông nghiệp truyền thống, khoai lang đã chiếm hầu hết chỗ của khoai sọ, sản phẩm chủ yếu trước đó, và khiến dân cư tại các vùng cao nguyên tăng lên đáng kể.

Trước thế kỷ XIX người phương Tây ít biết về hòn đảo này, dù các thương gia từ Đông Nam Á đã tới New Guinea từ 5,000 trước để mua lông chim seo cờ làm bút, và các nhà thám hiểm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã tới hòn đảo này ngay từ thế kỷ XVI (1526 và 1527 Dom Jorge de Meneses). Tên kép của nước này là những kết quả của lịch sử hành chính phức tạp của nó trước khi giành độc lập. Từ papua xuất phát từ pepuah một từ tiếng Malay miêu tả mái tóc quăn của người Melanesia, và "New Guinea" (Nueva Guinea) là cái tên do nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Yñigo Ortiz de Retez đặt ra, vào năm 1545 ông đã lưu ý thấy sự tương đồng giữa người dân ở đây với những người ông từng thấy trước đó dọc theo bờ biển Guinea của châu Phi.

Nửa phía bắc nước này rơi vào tay Đức năm 1884 với tên gọi New Guinea Đức. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, nó bị Úc chiếm đóng, nước đã bắt đầu quản lý New Guinea Anh, phần phía nam, được đổi tên lại là Papua năm 1904. Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Úc được Hội quốc liên uỷ quyền cai quản New Guinea Đức cũ. Trái lại Papua, được coi là một Lãnh thổ Bên ngoài của Khối thịnh vượng chung Úc, dù theo pháp luật nó vẫn thuộc sở hữu của người Anh, một vấn đề có tầm quan trọng lớn với hệ thống pháp lý của đất nước sau khi độc lập năm 1975. Sự khác biệt này trong vị thế pháp lý có nghĩa Papua và New Guinea có cơ quan hành chính hoàn toàn riêng biệt, nhưng cả hai đều do Úc kiểm soát.

Chiến tranh thế giới thứ hai

Chiến dịch New Guinea (1942-1945) là một trong những chiến dịch quân sự lớn thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Xấp xỉ 216,000 binh sĩ, thủy thủ và phi công Nhật, Úc và Mỹ đã chết trong Chiến dịch New Guinea. Hai vùng lãnh thổ đã được gộp vào trong Lãnh thổ Papua và New Guinea sau Chiến tranh thế giới thứ hai, và sau đó được gọi đơn giản là "Papua New Guinea". Bộ máy hành chính của Papua được mở cho sự giám sát của Liên Hợp Quốc. Tuy nhiên, một số vị thế đã tiếp tục (và đang tiếp tục) chỉ được áp dụng ở một vùng lãnh thổ. một vấn đề rất phức tạp ngày nay bởi sự điều chỉnh biên giới của Papua tại các tỉnh liền kề với sự chú tâm tới đường bộ tiếp cận và các nhóm ngôn ngữ, vì thế những vị thế được áp dụng ở một phía biên giới vốn đã không còn tồn tại nữa.

Độc lập

Quá trình giành độc lập một cách hoà bình từ Úc, quyền lực đô thị trên thực tế, diễn ra ngày 16 tháng 9 năm 1975, và hai bên vẫn có quan hệ gần gũi (Úc vẫn là nhà cung cấp viện trợ song phương lớn nhất cho Papua New Guinea).

Một cuộc nổi dậy ly khai diễn ra năm 1975-76 trên đảo Bougainville đã dẫn tới sự thay đổi kéo dài 11 giờ với bản thảo Hiến pháp Papua New Guinea để cho phép Bougainville và mười tám quận khác của Papua New Guinea thời tiền độc lập có vị thế trong liên bang như là các tỉnh. Cuộc nổi dậy lại diễn ra và làm thiệt mạng 20,000 người từ năm 1988 tới khi nó được giải quyết năm 1997. Sau cuộc nổi dậy, Bougainville tự trị đã bầu Joseph Kabui làm tổng thống, nhưng ông đã được vị phó là John Tabinaman kế vị. Tabinaman vẫn là lãnh đạo cho tới khi một cuộc bầu cử nhân dân mới diễn ra tháng 12 năm 2008, với James Tanis là người giành chiến thắng. Cuộc nổi dậy chống người Trung Quốc, có sự tham gia của hàng chục nghìn người, nổ ra tháng 5 năm 2009.

Chính trị

Papua New Guinea là một vương quốc Thịnh vượng chung với Charles III là quốc vương. Toàn quyền là đại diện của quốc vương, được Quốc hội bầu ra. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ, được Quốc hội bầu ra và được toàn quyền bổ nhiệm. Thủ tướng đề nghị toàn quyền bổ nhiệm các bộ trưởng trong Hội đồng hành chính quốc gia, là cơ quan hành chính cao nhất của Papua New Guinea. Quốc hội là cơ quan lập pháp đơn viện, gồm 111 nghị sĩ, trong đó 22 nghị sĩ là các thống đốc của 21 tỉnh và Quận Thủ đô Quốc gia. Nhiệm kỳ của mỗi khóa Quốc hội tối đa là năm năm.

Ứng cử viên nghị sĩ Quốc hội được bầu khi thủ tướng kêu gọi một cuộc bầu cử quốc gia. Trong những năm đầu độc lập, sự bất ổn định của hệ thống đảng khiến những cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm thường xảy ra trong nghị viện khiến các chính phủ thường xuyên sụp đổ và lại cần tới các cuộc bầu cử quốc gia, theo các điều khoản của dân chủ nghị viện. Trong những năm gần đây, các chính phủ nối tiếp nhau đã thông qua điều luật ngăn chặn những cuộc bỏ phiếu đó được diễn ra sớm hơn 18 tháng từ cuộc bầu cử quốc gia. Điều này được cho là đã dẫn tới sự ổn định lớn hơn, dù có lẽ đã làm giảm tín nhiệm của chính phủ.

Các cuộc bầu cử tại Papua New Guinea thu hút rất nhiều ứng cử viên. Sau khi độc lập năm 1975, các thành viên được bầu theo hệ thống first past the post, với người thắng cuộc thường giành chưa tới 15% phiếu. Các cuộc cải cách bầu cử năm 2001 đưa ra hệ thống Bầu cử Ưu đãi Giới hạn (LPV), một phiên bản của Bỏ phiếu Lựa chọn. bầu cử toàn quốc năm 2007 là cuộc bầu cử đầu tiên sử dụng LPV.

Luật pháp

Nghị viện đơn viện ban hành pháp luật theo cùng cách như tại các hệ thống pháp lý khác có "nội các," "chính phủ chịu trách nhiệm," hay "nghị viện dân chủ": nó được nhánh hành pháp đề xuất với nhánh lập pháp, được tranh luận và, nếu được thông qua, sẽ trở thành luật khi nhận được sự đồng ý của hoàng gia thông qua Toàn quyền. Hầu hết luật pháp hiện thực tế là những quy định do phe quan liêu áp dụng theo luật trao quyền đã được Nghị viện thông qua từ trước.

Mọi điều luật thông thường được Nghị viện ban hành phải tương thích với Hiến pháp. Các toà án có quyền phán xử về tình trạng hợp hiến của các điều luật, cả trong các cuộc tranh luận trước toà và về một sự tham khảo khi không có tranh cãi mà chỉ là một câu hỏi về sự khó hiểu của pháp luật. Khá bất thường trong số các nước đang phát triển, nhánh tư pháp của chính phủ tại Papua New Guinea vẫn khá độc lập, và những chính phủ hành pháp tiếp nối nhau vẫn tiếp tục tôn trọng quyền lực của nó.

"Luật bên dưới" — có nghĩa là, luật phong tục của Papua New Guinea — gồm luật phong tục Australia như nó bắt đầu có hiệu lực ngày 16 tháng 9 năm 1975 (ngày độc lập), và sau đó là các quyết định của các toà án của Papua New Guinea. Các toà án hoạt động tuân theo Hiến pháp, và gần đây, Underlying Law Act, để có xem xét tới "phong tục" của các cộng đồng truyền thống, với một quan điểm để xác định xem các phong tục nào là chung cho toàn bộ đất nước và có thể được tuyên bố là một phần của luật bên dưới. Trên thực tế, điều này đã cho thấy rất khó khăn, và hầu như đã bị lờ đi. Các điều luận chủ yếu được phỏng theo luật của các quốc gia khác, nhất là Úc và Anh. Sự biện hộ trong các toà án giống với mẫu hình đối lập của các quốc gia luật phong tục khác.

Tội phạm và nhân quyền

Papua New Guinea có một trong những tỷ lệ bạo lực đối với phụ nữ cao nhất trên thế giới và tỷ lệ phụ nữ tham gia chính trị thấp nhất ở Đông Nam Á. Bạo hành gia đình và bạo hành tình dục đối với phụ nữ, con gái là một vấn nạn. Trước khi bị bãi bỏ vào năm 2013, Luật Thuật phù thủy 1971 cho phép bào chữa hành vi giết người bằng cáo buộc nạn nhân là phù thủy. Ước tính 50–150 người bị cáo buộc là phù thủy bị sát hại mỗi năm tại Papua New Guinea. Pháp luật cấm hành vi đồng tính luyến ái.

Quan hệ ngoại giao

Papua New Guinea được cấp quy chế quan sát viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á vào năm 1976, được nâng cấp lên quan sát viên đặc biệt vào năm 1981 và đã xin gia nhập ASEAN. Papua New Guinea là một thành viên Phong trào không liên kết, Khối Thịnh vượng chung, Diễn đàn Quần đảo Thái Bình Dương, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương và Liên Hợp Quốc.

Phân cấp hành chính

Papua New Guinea là một nhà nước đơn nhất với mức độ phân cấp, phân quyền cao. Papua New Guinea gồm bốn vùng, nhưng các vùng không phải là đơn vị hành chính chính thức. Về mặt hành chính, Papua New Guinea được chia thành 22 đơn vị hành chính cấp tỉnh: 20 tỉnh, Khu tự trị Bougainville và Quận Thủ đô Quốc gia. Các tỉnh được chia thành 89 quận, các quận được chia thành hơn 300 khu vực chính quyền địa phương (LLG). LLG thành thị và LLG nông thôn có cơ cấu tổ chức hơi khác nhau. Manus là tỉnh nhỏ nhất, thưa dân nhất với một quận. Tỉnh là đơn vị hành chính chủ yếu của Papua New Guinea và chính quyền tỉnh gồm các nghị sĩ Quốc hội được bầu ra từ tỉnh đó. Chính quyền địa phương hoạt động song song với các bộ lạc truyền thống. Có sự khác biệt lớn về dân số của mỗi tỉnh: sáu tỉnh đông dân nhất chiếm hơn 50% dân số toàn quốc, trong khi sáu tỉnh thưa dân nhất chiếm chỉ 14%. Chính quyền tỉnh có quyền thu thế và quản lý một phần giáo dục, y tế và phát triển. Danh sách đơn vị hành chính cấp tỉnh sau đây:

Kinh tế

Papua New Guinea là một nước đang phát triển. Nền kinh tế phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và vốn đầu tư tập trung vào ngành khai thác mỏ và dầu khí. Hầu hết lực lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp. Tính đến 2018, khai thác tài nguyên thiên nhiên chiếm 28% GDP của Papua New Guinea, trong đó khoáng sản, dầu mỏ và khí tự nhiên là những sản phẩm chính. Các trầm tích khoáng sản, gồm dầu mỏ, đồng, và vàng, chiếm 72% nguồn thu từ xuất khẩu. Nước này cũng có một ngành công nghiệp cà phê đáng chú ý. Cựu thủ tướng Sir Mekere Morauta đã tìm cách tái lập tính toàn thể của các định chế nhà nước, ổn định đồng tiền tệ kina, tái lập sự ổn định của ngân sách quốc gia, tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước thích hợp, và đảm bảo tình trạng hoà bình tại Bougainville sau thoả thuận năm 1997 chấm dứt tình trạng bất ổn đòi ly khai tại Bougainville. Chính phủ Morauta có những thành công đáng chú ý trong việc thu hút sự giúp đỡ của quốc tế, đặc biệt giành được sự ủng hộ của IMF và Ngân hàng Thế giới trong việc tìm kiếm các khoản cho vay hỗ trợ phát triển. Những thách thức lớn nhất phải đối mặt của Thủ tướng hiện nay, Sir Michael Somare, gồm tạo được lòng tin hơn nữa của nhà đầu tư, tiếp tục các nỗ lực tư nhân hoá tài sản chính phủ, và duy trì sự ủng hộ của các thành viên Nghị viện.

Tháng 3 năm 2006 Hội đồng vì Chính sách Phát triển của Liên Hợp Quốc đã kêu gọi chuyển Papua New Guinea từ danh sách quốc gia đang phát triển xuống danh sách quốc gia kém phát triển bởi tình trạng trì trệ kinh tế và xã hội kéo dài. Tuy nhiên, một cuộc đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế vào cuối năm 2008 thấy rằng "một sự tổng hợp của các chính sách tiền tệ và thuế khoá thận trọng, và giá cả các mặt hàng khoáng sản xuất khẩu cao trên thế giới, đã củng cố cho tình trạng tăng trưởng kinh tế và ổn định vi mô gần đây của Papua New Guinea. Tăng trưởng GDP thực, ở mức hơn 6% năm 2007, có nền tảng vững và được trông đợi sẽ tiếp tục cao trong năm 2008."

Sở hữu đất đai

Hơn 97% đất đai của Papua New Guinea được chỉ định là đất tập quán thuộc sở hữu của các dân tộc bản địa. Quyền sở hữu đất tập quán phần lớn không được đăng ký và những nỗ lực thúc đẩy đăng ký quyền sở hữu đất đai. Quốc hội đã thông qua luật công nhận "quyền sở hữu đất tập quán", tạo cơ sở pháp lý cho quyền sở hữu không thể chuyển nhượng của các dân tộc bản địa; đất có thể chuyển nhượng được nhà nước cho thuê cho tư nhân hoặc thuộc sở hữu nhà nước. Chỉ công dân Papua New Guinea có quyền sở hữu đất đai vô thời hạn.

Vận tải

Vận tải tại Papua New Guinea bị hạn chế nhiều bởi địa hình núi non của nước này. Port Moresby không được kết nối bằng đường bộ với bất kỳ một thị trấn lớn khác nào, và nhiều làng ở xa xôi chỉ có thể được tiếp cận bằng máy bay hạng nhẹ hoặc đi bộ. Vì thế, giao thông đường không là hình thức giao thông quan trọng duy nhất. Papua New Guinea có 578 đường băng, đa số chúng chưa được trải nhựa.

Nhân khẩu

Papua New Guinea là một trong những quốc gia đa dạng nhất thế giới. Năm 2020, Liên Hợp Quốc ước tính dân số của Papua New Guinea là 8,95 triệu người. Chính phủ ước tính dân số là 11,8 triệu người vào năm 2021.

Có hàng trăm nhóm sắc tộc bản xứ tại Papua New Guinea, đa số là người Papua, tổ tiên của họ đã tới vùng New Guinea từ hàng chục nghìn năm trước. Nhiều bộ tộc Papuan tại các vùng xa xôi vẫn chỉ có tiếp xúc ban đầu với thế giới bên ngoài. Các nhóm khác là người Nam Đảo, tổ tiên của họ đã tới vùng này chưa tới bốn ngàn năm trước. Cũng có nhiều người từ các vùng khác của thế giới hiện sinh sống tại đây, gồm cả người gốc Hoa, người châu Âu, người Úc, người Phillippines, người Polynesia và người Micronesia. Ở thời điểm đầu độc lập năm 1975, có 40,000 người nước ngoài (chủ yếu là người Úc và người Trung Quốc) tại Papua New Guinea.

Đọc bài đầy đủ trên Wikipedia

Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.