Perú
quốc gia ở Nam Mỹ
Perú, quốc hiệu là Cộng hòa Perú, là một quốc gia nằm ở phía Tây Nam Mỹ. Về phía bắc, Perú có biên giới với Ecuador và Colombia, về phía đông là Brasil, về phía đông nam là Bolivia, ở phía nam là Chile, phía tây Perú là Thái Bình Dương.
Lãnh thổ Perú là quê hương của nhiều nền văn hóa cổ đại, trải dài từ văn minh Norte Chico – một trong các nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới, đến Đế quốc Inca – quốc gia lớn nhất châu Mỹ thời kỳ tiền Colombo. Đế quốc Tây Ban Nha chinh phục khu vực vào thế kỷ 16 và thiết lập một phó vương quốc với thủ đô tại Lima. Sau khi giành được độc lập vào năm 1821, Perú trải qua các giai đoạn bất ổn định chính trị và khủng hoảng ngân sách, cũng như các giai đoạn ổn định và kinh tế tiến bộ.
Perú là một nước cộng hòa bán tổng thống chế, được chia thành 25 vùng. Địa lý Perú biến đổi từ các đồng bằng khô hạn ở vùng duyên hải Thái Bình Dương đến các đỉnh của dãy Andes và các khu rừng nhiệt đới ở bồn địa Amazon. Perú là một nước đang phát triển, có chỉ số phát triển con người ở mức cao và mức nghèo là khoảng 25,8%. Các hoạt động kinh tế chính của quốc gia gồm có khai mỏ, chế tạo, nông nghiệp và ngư nghiệp.
Perú là một nước đa sắc tộc, với dân số ước tính là 30,4 triệu người, thành phần dân tộc bao gồm người da đỏ, người gốc Âu, người gốc Phi và người gốc Á. Ngôn ngữ chính là tiếng Tây Ban Nha, song một lượng đáng kể người Perú nói tiếng Quechua hay các ngôn ngữ bản địa khác. Sự kết hợp của các truyền thống văn hóa khiến cho Perú có sự đa dạng lớn trên các lĩnh vực như nghệ thuật, ẩm thực, văn chương và âm nhạc.
Nguồn gốc tên gọi
Từ Perú có khởi nguyên trong các ngôn ngữ khác nhau ở nam bộ Pháp và tây bắc bộ Tây Ban Nha và cũng tìm thấy tại xứ Corse, tuy nhiên đối với người châu Âu, từ Perú là phù hợp nhất để thay thế tên gọi nguyên bản Birú, là tên của một quân chủ bản địa sống vào đầu thế kỷ 16 gần vịnh San Miguel thuộc Panama ngày nay. Khi các nhà thám hiểm Tây Ban Nha đến thăm lãnh thổ của ông vào năm 1522, đó là phần cực nam của Tân Thế giới mà người châu Âu biết đến. Do đó, khi Francisco Pizarro khám phá khu vực ở xa hơn về phía nam, chúng được đặt tên là Birú hay Perú.
Vương quốc Tây Ban Nha trao cho tên gọi này địa vị pháp lý trong Capitulación de Toledo năm 1529, theo đó gọi tên Đế quốc Inca là tỉnh Perú. Dưới sự cai trị của Tây Ban Nha, quốc gia nhận tên gọi Phó vương quốc Perú, và trở thành nước Cộng hòa Perú sau chiến tranh giành độc lập.
Lịch sử
Các bằng chứng sớm nhất về sự hiện diện của con người tại lãnh thổ Perú có niên đại khoảng 9.000 năm TCN. Xã hội phức tạp cổ nhất được biết đến tại Perú là văn minh Norte Chico, nền văn minh này hưng thịnh dọc theo bờ biển Thái Bình Dương trong khoảng từ 3.000 đến 1.800 TCN. Theo sau những phát triển ban đầu này là các nền văn hóa khảo cổ học như Cupisnique, Chavin, Paracas, Mochica, Nazca, Wari, và Chimú. Vào thế kỷ 15, người Inca nổi lên thành một quốc gia hùng mạnh, tạo thành đế quốc lớn nhất châu Mỹ thời kỳ tiền Colombo, Đế quốc Inca tồn tại gần một thế kỷ. Các xã hội Andes dựa vào nông nghiệp, sử dụng các kỹ thuật như thủy lợi và ruộng bậc thang; chăn nuôi lạc đà và ngư nghiệp cũng là hoạt động quan trọng. Tổ chức xã hội dựa trên sự hỗ thù và tái phân phối do các xã hội này không có khái niệm về thị trường hay tiền tệ.
Tháng 12 năm 1532, một toán conquistador dưới quyền chỉ huy của Francisco Pizarro đánh bại và bắt giữ Hoàng đế Inca Atahualpa. Mười năm sau, Vương quốc Tây Ban Nha thiết lập Phó vương quốc Perú để quản lý hầu hết các thuộc địa tại Nam Mỹ của họ. Phó vương Francisco de Toledo tái tổ chức quốc gia trong thập niên 1570, hoạt động kinh tế chính là khai mỏ bạc và nguồn lao động chính là những lao động cưỡng bức người da đỏ.
Các thoi bạc của Perú cung cấp thu nhập cho Vương quốc Tây Ban Nha và thúc đẩy một mạng lưới mậu dịch phức tạp trải rộng đến tận châu Âu và Philippines. Tuy nhiên, vào thế kỷ 18, sản lượng bạc suy giảm và kinh tế đa dạng hóa khiến cho thu nhập của vương thất Tây Ban Nha giảm mạnh. Nhằm phản ứng, triều đình ban hành các cải cách Bourbon, với một loạt các chiếu chỉ nhằm tăng thuế và phân chia Phó vương quốc. Các luật mới kích động các cuộc nổi dậy như của Túpac Amaru II, song tất cả đều bị đàn áp.
Vào đầu thế kỷ 19, trong khi hầu hết Nam Mỹ bị cuốn vào các cuộc chiến giành độc lập, thì Perú vẫn là một thành trì của những người bảo hoàng. Do giới tinh hoa dao động giữa giải phóng và trung thành với chế độ quân chủ Tây Ban Nha, Perú chỉ giành được độc lập sau khi bị chiếm đóng do chiến dịch quân sự của José de San Martín và Simón Bolívar. Trong những năm đầu cộng hòa, đấu tranh cục bộ nhằm giành quyền lực giữa các lãnh đạo quân sự khiến cho chính trị bất ổn định.
Đặc tính dân tộc Perú được rèn luyện trong giai đoạn này, khi mà các kế hoạch của Simón Bolívar nhằm thành lập một Liên minh Mỹ Latinh gặp khó khăn và một liên minh với Bolivia sớm tàn. Từ thập niên 1840 đến thập niên 1860, Perú trải qua một giai đoạn ổn định trong nhiệm kỳ tổng thống của Ramón Castilla nhờ thu nhập quốc gia tăng lên từ xuất khẩu phân chim. Tuy nhiên, đến thập niên 1870, tài nguyên này bị cạn kiệt, quốc gia lâm vào tình trạng nợ nần nghiêm trọng, và đấu tranh chính trị lại nổi lên.
Perú chiến bại trước Chile trong Chiến tranh Thái Bình Dương 1879–1883, phải nhượng hai tỉnh Arica và Tarapacá theo các hiệp ước Ancón và Lima. Tiếp sau đấu tranh nội bộ hậu chiến là một giai đoạn ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng Bình dân, giai đoạn này kéo dài đến khi bắt đầu chế độ độc tài của Augusto B. Leguía. Đại khủng hoảng khiến Leguía bị hạ bệ, hồi phục rối loạn chính trị, và Đảng Nhân dân Cách mạng châu Mỹ (APRA) nổi lên. Trong ba thập niên sau đó, chính trị Perú có đặc điểm là tình trạng kình địch giữa tổ chức này và một liên minh của giới tinh hoa và quân sự.
Năm 1968, Lực lượng Vũ trang Perú dưới sự chỉ huy của Tướng General Juan Velasco Alvarado tiến hành đảo chính lật đổ Tổng thống Fernando Belaunde. Chế độ mới cam kết cải cách triệt để nhằm thúc đẩy phát triển, song không nhận được ủng hộ rộng rãi. Năm 1975, Tướng Francisco Morales Bermúdez thay thế Velasco, làm tệ liệt các cải cách, và giám thị việc tái lập chế độ dân chủ. Trong thập niên 1980, Perú phải đối mặt với nợ nước ngoài lớn, lạm phát ngày càng tăng, buôn bán ma túy nổi lên, và bạo lực chính trị quy mô lớn. Trong nhiệm kỳ tổng thống của Alberto Fujimori (1990–2000), quốc gia bắt đầu phục hồi; tuy nhiên, các cáo buộc độc đoán, tham nhũng, và vi phạm nhân quyền buộc Fujimori phải từ nhiệm sau cuộc bầu cử năm 2000 gây tranh cãi. Từ khi chế độ của Fujimori kết thúc, Perú cố gắng chống tham nhũng trong khi duy trì tăng trưởng kinh tế.
Trong đại dịch COVID-19, Perú là nước có tỷ lệ tử vong do COVID-19 cao nhất thế giới, làm bộc lộ những bất bình đẳng sâu sắc tồn tại từ thời chính quyền Fujimori và gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế dẫn đến việc Quốc hội phế truất Tổng thống Vizcarra. Hành động này bị coi rộng rãi là một cuộc đảo chính của Quốc hội; người đứng đầu cơ quan này, tân Tổng thống Manuel Merino, đã phải đối mặt với các cuộc biểu tình trên toàn quốc và phải từ chức chỉ sau năm ngày tại vị. Merino được thay thế bởi Tổng thống Francisco Sagasti, người lãnh đạo một chính phủ lâm thời trung dung và tiếp tục thực thi nhiều chính sách trước đó của Vizcarra. Cuộc bầu cử diễn ra vào ngày 11 tháng 4 năm 2021, trong đó Pedro Castillo của đảng Perú Tự do đã giành chiến thắng ở vòng đầu tiên, theo sát là Keiko Fujimori, trong khi các đảng cánh hữu đồng minh với Fujimori vẫn giữ vững vị thế tại Quốc hội.
Ngày 28 tháng 7 năm 2021, Pedro Castillo tuyên thệ nhậm chức tổng thống sau chiến thắng sít sao trong vòng bầu cử chung kết đầy kịch tính. Cùng năm đó, Perú đã kỷ niệm hai trăm năm ngày độc lập. Trong nhiệm kỳ của mình, Castillo đã phải đối mặt với nhiều cuộc bỏ phiếu bãi nhiệm từ Quốc hội do phe cánh hữu kiểm soát. Vào ngày 7 tháng 12 năm 2022, chỉ vài giờ trước khi Quốc hội bắt đầu nỗ lực bãi nhiệm lần thứ ba, Castillo đã cố gắng ngăn chặn điều này bằng cách tuyên bố giải tán cơ quan lập pháp do phe đối lập kiểm soát và thành lập một "chính phủ khẩn cấp đặc biệt". Đáp lại, Quốc hội đã nhanh chóng tổ chức phiên họp khẩn cấp ngay trong ngày và bỏ phiếu với tỷ lệ 101–6 (10 phiếu trắng) để cách chức Castillo, thay thế ông bằng Phó Tổng thống Dina Boluarte. Bà đã trở thành nữ tổng thống đầu tiên của quốc gia này. Castillo bị bắt giữ sau khi cố gắng trốn sang đại sứ quán México và bị cáo buộc tội nổi loạn.
Chính phủ của Boluarte không nhận được sự ủng hộ từ công chúng khi bà liên minh với Quốc hội cánh hữu và quân đội, điều được coi là phản bội lại cử tri của mình. Sự phẫn nộ này đã dẫn đến các cuộc biểu tình chính trị Perú 2022–2023, đòi hỏi bãi miễn Boluarte và Quốc hội, tổ chức tổng tuyển cử ngay lập tức và soạn thảo hiến pháp mới. Chính quyền đã phản ứng bằng bạo lực đối với các cuộc biểu tình, dẫn đến Thảm sát Ayacucho và Thảm sát Juliaca, gây ra tình trạng bạo lực nghiêm trọng nhất tại quốc gia này trong hơn hai thập kỷ. Phản ứng cứng rắn từ giới tinh hoa chính trị tại Lima đã dấy lên lo ngại về ý định thiết lập một chính quyền độc tài hoặc một chính phủ dân sự-quân sự. Vào ngày 10 tháng 10 năm 2025, Quốc hội Perú đã cách chức Tổng thống Dina Boluarte và José Jerí được tuyên thệ nhậm chức Tổng thống lâm thời của Perú. Đến tháng 2 năm 2026, Quốc hội đã bỏ phiếu bãi nhiệm Tổng thống lâm thời José Jerí. Sau khi ông bị lật đổ, José María Balcázar được bầu làm Tổng thống lâm thời mới để lãnh đạo đất nước cho đến cuộc tổng tuyển cử dự kiến diễn ra vào ngày 12 tháng 4 năm 2026.
Địa lý
Perú là một quốc gia trên bờ biển phía tây trung tâm của Nam Mỹ đối diện với Thái Bình Dương. Nó nằm hoàn toàn ở Nam Bán cầu, cực bắc của nó đạt tới 1,8 phút vĩ độ hoặc khoảng 3,3 km (2,1 mi) về phía nam của đường xích đạo. Perú có chung biên giới đất liền với Ecuador, Colombia, Brasil, Bolivia và Chile, với biên giới đất liền dài nhất được chia sẻ với Brasil.
Perú có diện tích 1.285.216 km2 (496.225 dặm vuông Anh), nằm ở tây bộ Nam Mỹ. Quốc gia này có biên giới với Ecuador và Colombia ở phía bắc, Brasil ở phía đông, Bolivia ở phía đông nam, Chile ở phía nam, và phía tây là Thái Bính Dương. Dãy núi Andes chạy song song với Thái Bình Dương; dãy núi này phân quốc gia thành ba khu vực về mặt địa lý. costa (duyên hải) ở phía tây là một đồng bằng hẹp, phần lớn là khô hạn ngoại trừ các thung lũng hình thành từ các sông theo mùa. sierra (đất cao) là khu vực Andes; gồm có cao nguyên Altiplano và đỉnh cao nhất quốc gia là Huascarán với cao độ 6.768 m (22.205 ft). Vùng thứ ba là selva (rừng rậm) với địa hình bằng phẳng trải rộng với các rừng mưa Amazon mở rộng về phía đông. Khoảng 60% diện tích quốc gia thuộc vùng thứ ba này.
Hầu hết sông tại Perú bắt nguồn từ các đỉnh của dãy Andes và chảy vào một trong ba lưu vực. Những sông đổ về Thái Bình Dương có đặc điểm là dốc và ngắn, dòng chảy không liên tục. Các chi lưu của sông Amazon có chiều dài lớn hơn, có dòng chảy lớn hơn nhiều, và có độ dốc nhỏ hơn khi ra khỏi khu vực sierra. Các sông đổ vào hồ Titicaca thường có chiều dài ngắn và có dòng chảy lớn. Các sông dài nhất chảy qua lãnh thổ Perú là Ucayali, Marañón, Putumayo, Yavarí, Huallaga, Urubamba, Mantaro, và Amazon.
Ảnh hưởng của dãy Andes và hải lưu Humboldt khiến quốc gia này có sự đa dạng rất lớn về khí hậu. Khu vực costa có nhiệt độ ôn hòa, lượng mưa thấp, độ ẩm cao, trừ phần phía bắc ấm hơn và có lượng mưa lớn hơn. Khu vực sierra có mưa thường xuyên vào mùa hạ, nhiệt độ và ẩm độ giảm theo cao độ cho đến các đỉnh núi đóng băng của dãy Andes. Khu vực selva có đặc trưng là lượng mưa lớn và nhiệt độ cao, ngoại trừ phần cực nam- là nơi có mùa đông lạnh và có mưa theo mùa. Do địa hình và khí hậu đa dạng, Perú có đa dạng sinh học cao với 21.462 loài thực vật và động vật ghi nhận được tính đến năm 2003; 5.855 trong số đó là loài đặc hữu.
Chính trị
Perú là một nước cộng hòa bán tổng thống chế với một hệ thống đa đảng. Hiến pháp hiện hành được ban hành vào năm 1993. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ, được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống bổ nhiệm thủ tướng và phối hợp với thủ tướng trong việc bổ nhiệm các bộ trưởng trong Hội đồng Bộ trưởng. Quốc hội là cơ quan lập pháp lưỡng viện, gồm Hạ viện và Thượng viện. Dự luật có thể được chính phủ hoặc nghị sĩ đệ trình và trở thành luật sau khi được Quốc hội thông qua và được tổng thống ban hành. Hệ thống tư pháp độc lập trên danh nghĩa, song sự can thiệp của chính quyền đối với các vấn đề pháp luật đã phổ biến trong suốt lịch sử và được cho là vẫn tiếp tục đến nay.
Bầu cử là bắt buộc đối với tất cả công dân từ 18 đến 70 tuổi. Cuộc bầu cử tổ chức vào năm 2011 kết thúc với chiến thắng của ứng cử viên tổng thống Ollanta Humala thuộc liên minh Gana Perú trước Keiko Fujimori thuộc Fuerza 2011. Nghị viện hiện gồm có Gana Perú (47 ghế), Fuerza 2011 (37 ghế), Alianza Parlamentaria (20 ghế), Alianza por el Gran Cambio (12 ghế), Solidaridad Nacional (8 ghế) và Concertación Parlamentaria (6 ghế).
Các xung đột biên giới với các quốc gia láng giềng chi phối quan hệ đối ngoại của Perú, hầu hết chúng đều được giải quyết xong trong thế kỷ 20. Hiện nay, Perú có tranh chấp giới hạn hàng hải với Chile trên Thái Bình Dương. Perú là một thành viên tích cực của một số tổ chức khu vực và là một trong số các quốc gia sáng lập Cộng đồng các quốc gia Andes. Quốc gia này cũng tham gia các tổ chức quốc tế như Tổ chức các quốc gia châu Mỹ và Liên Hợp Quốc. Lực lượng Vũ trang Perú gồm có lục quân, hải quân và không quân; nhiệm vụ chính của quân đội Perú là bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Các lực lượng vũ trang trực thuộc Bộ Quốc phòng và tổng thống là tổng tư lệnh. Chế độ quân dịch bắt buộc bị bãi bỏ vào năm 1999.
Phân cấp hành chính
Perú được chia thành 26 đơn vị hành chính: 24 vùng, Tỉnh lập hiến Callao và Tỉnh Lima. Chính phủ vùng gồm có thống đốc và hội đồng vùng dân cử. Chính phủ vùng đặt kế hoạch phát triển vùng, thực hiện các dự án đầu tư công, xúc tiến hoạt động kinh tế, và quản lý tài sản công. Tỉnh Lima được quản lý bởi một hội đồng thành phố. Mục tiêu của việc ủy thác quyền cho các chính phủ địa phương và thành phố, cùng với các hành động khác, là nhằm cải thiện sự tham gia của quần chúng. Các tổ chức phi chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong quá trình phân tán quyền lực và vẫn có ảnh hưởng đến chính trị địa phương.
Quan hệ đối ngoại
Trong những thập kỷ gần đây, quan hệ đối ngoại của Perú về mặt lịch sử chịu ảnh hưởng lớn bởi mối liên kết chặt chẽ với Hoa Kỳ và Châu Á, đặc biệt thông qua Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại Thế giới, Liên minh Thái Bình Dương, Mercosur, và Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS).
Perú là thành viên tích cực của nhiều khối thương mại khu vực và là một trong những thành viên sáng lập của Cộng đồng các quốc gia Andes. Quốc gia này cũng là thành viên của các tổ chức quốc tế như Tổ chức các quốc gia châu Mỹ và Liên Hợp Quốc. Javier Pérez de Cuéllar, một nhà ngoại giao Perú, từng giữ chức Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc từ năm 1981 đến 1991.
Perú từng đặt kế hoạch gia nhập hoàn toàn vào Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế trước năm 2021, nhờ vào những thành tựu kinh tế và nỗ lực củng cố thể chế để đáp ứng các tiêu chuẩn gia nhập. Là thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới, Perú ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do lớn, gần đây nhất là Hiệp định Thúc đẩy Thương mại Hoa Kỳ – Perú, Hiệp định Thương mại Tự do Trung Quốc – Perú, Hiệp định Thương mại Tự do với Liên minh châu Âu, các thỏa thuận với Nhật Bản và nhiều đối tác khác.
Perú duy trì mối quan hệ hội nhập sâu rộng với các quốc gia Nam Mỹ khác và tham gia nhiều thỏa thuận liên chính phủ trong khu vực như Tổ chức các quốc gia Châu Mỹ, Mercosur, Cộng đồng các quốc gia Andes, Liên minh Thái Bình Dương và APEC. Trong lịch sử, quan hệ với Chile từng có những giai đoạn căng thẳng, bao gồm phán quyết của tòa án quốc tế và Tranh chấp hàng hải Chile – Perú, nhưng cả hai nước đã đồng ý hợp tác để cải thiện mối quan hệ song phương.
Perú cũng đóng vai trò dẫn dắt trong việc giải quyết cuộc Khủng hoảng tại Venezuela thông qua việc thành lập Nhóm Lima. Theo Chỉ số Hòa bình Toàn cầu năm 2024, Perú đứng thứ 99 trong danh sách các quốc gia hòa bình nhất thế giới.
Quân sự
Perú có lực lượng quân sự lớn thứ tư tại Mỹ Latinh. Lực lượng Vũ trang Perú bao gồm Hải quân Perú, Lục quân Perú và Không quân Perú. Tính đến năm 2020, tổng quân số là 392.660 người (bao gồm 120.660 quân thường trực và 272.000 quân dự bị). Nhiệm vụ chính của họ là bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia.
Chức năng của các quân chủng được phân chia cụ thể:
Lục quân Perú: bao gồm Bộ Tổng tham mưu, hai Cơ quan Kiểm soát, hai Cơ quan Hỗ trợ, năm Quân khu và sáu Phòng Chỉ huy.
Không quân Perú chính thức được thành lập vào ngày 20 tháng 5 năm 1929 với tên gọi Quân đoàn Hàng không Perú. Chức năng chính của lực lượng này là đảm nhiệm vai trò phòng không cho đất nước. Ngoài ra, Không quân còn tham gia các chiến dịch hỗ trợ xã hội cho các khu vực khó tiếp cận, tổ chức cầu hàng không trong thiên tai và tham gia các sứ mệnh hòa bình quốc tế. Bốn căn cứ không quân chính của lực lượng này đặt tại các thành phố Piura, Callao, Arequipa và Iquitos.
Hải quân Perú chịu trách nhiệm phòng thủ vùng biển, vùng sông và hồ của đất nước với quân số khoảng 26.000 thủy thủ. Nhân sự được chia thành ba cấp: sĩ quan cấp cao, hạ sĩ quan và thủy thủ đoàn.
Tổng tư lệnh, Bộ Quốc phòng và Bộ Tư lệnh Liên quân Lực lượng Vũ trang Perú (CCFFAA) chỉ huy Lực lượng Vũ trang Perú. CCFFAA quản lý các Bộ Chỉ huy Hành quân và Bộ Chỉ huy Đặc biệt để thực hiện các chiến dịch quân sự cần thiết cho quốc phòng và hoàn thành các nhiệm vụ do quyền hành pháp giao phó. Chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc đã bị bãi bỏ vào năm 1999 và được thay thế bằng nghĩa vụ quân sự tự nguyện. Cảnh sát Quốc gia Perú thường được xếp vào hàng ngũ lực lượng vũ trang, tuy nhiên cơ quan này có cơ cấu tổ chức riêng biệt và mang sứ mệnh dân sự thuần túy. Dù vậy, các hoạt động huấn luyện và tác chiến (đặc biệt là đơn vị chống khủng bố trong hai thập kỷ qua) đã mang lại cho lực lượng này những đặc điểm quân sự rõ rệt, khiến họ được coi là nhánh quân sự thứ tư trên thực tế với năng lực tác chiến đường không, đường biển, đường bộ đáng kể và lực lượng khoảng 140.000 người. Lực lượng vũ trang Perú báo cáo thông qua Bộ Quốc phòng, trong khi Cảnh sát Quốc gia báo cáo thông qua Bộ Nội vụ.
Kể từ khi kết thúc cuộc xung đột nội bộ vào năm 2000, chính phủ Perú cắt giảm đáng kể chi tiêu quốc phòng hàng năm. Trong ngân sách giai đoạn 2016–2017, chi tiêu quốc phòng chiếm 1,1% GDP (tương đương 2,3 tỷ USD), là mức chi tiêu so với GDP thấp thứ hai ở Nam Mỹ, chỉ sau Argentina. Gần đây hơn, quân đội Perú tham gia tích cực vào các nhiệm vụ phòng thủ dân sự. Năm 2020, Perú huy động quân đội và cả lực lượng dự bị để thực thi các biện pháp cách ly nghiêm ngặt trong thời kỳ đại dịch COVID-19.
Kinh tế
Nền kinh tế của Perú lớn thứ 47 trên thế giới (xét theo PPP) và được Ngân hàng Thế giới phân loại là quốc gia có mức thu nhập trung bình cao. Tính đến năm 2011, Perú là một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới nhờ sự bùng nổ kinh tế trong những năm 2000. Quốc gia này có Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức 0,76, cao hơn mức trung bình toàn cầu và đã có sự cải thiện ổn định qua các năm tính đến năm 2024 (tăng thêm 0,007 điểm). Trong lịch sử, hiệu quả kinh tế của đất nước luôn gắn liền với xuất khẩu, lĩnh vực cung cấp ngoại tệ mạnh để chi trả cho nhập khẩu và các khoản nợ nước ngoài. Mặc dù xuất khẩu mang lại nguồn thu đáng kể, nhưng việc đạt được sự tăng trưởng bền vững và phân phối thu nhập bình đẳng hơn vẫn là một thách thức lớn. Theo dữ liệu năm 2015, 19,3% tổng dân số là người nghèo, trong đó có 9% sống trong tình trạng nghèo khổ tột cùng. Lạm phát năm 2012 của Perú ở mức thấp nhất Mỹ Latinh với chỉ 1,8%, nhưng đã tăng lên vào năm 2013 do giá dầu và hàng hóa tăng; Tính đến năm 2014, con số này là 2,5%, và đạt mức 8,6% vào năm 2023. Tỷ lệ thất nghiệp năm 2012 là 3,6%.
Chính sách kinh tế của Perú đã có nhiều thay đổi lớn kể từ thế kỷ 20. Chính quyền Juan Velasco Alvarado giai đoạn 1968–1975 đã đưa ra những cải cách triệt để, bao gồm cải cách ruộng đất, trưng thu các công ty nước ngoài, áp dụng hệ thống kế hoạch hóa kinh tế và thành lập khu vực kinh tế nhà nước quy mô lớn. Tuy nhiên, các biện pháp này đã không đạt được mục tiêu tái phân phối thu nhập và chấm dứt sự phụ thuộc kinh tế vào các quốc gia phát triển.
Dẫu vậy, hầu hết các cải cách này không bị đảo ngược cho đến những năm 1990, khi chính quyền tự do hóa của Alberto Fujimori chấm dứt việc kiểm soát giá cả, chủ nghĩa bảo hộ, các hạn chế đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài và hầu hết quyền sở hữu nhà nước tại các công ty.
Tính đến năm 2010, khu vực dịch vụ chiếm 53% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Perú, tiếp theo là công nghiệp chế tạo (22,3%), công nghiệp khai khoáng (15%) và thuế (9,7%). Sự tăng trưởng kinh tế gần đây được thúc đẩy bởi sự ổn định kinh tế vĩ mô, cải thiện tỷ giá thương mại, cũng như sự gia tăng trong đầu tư và tiêu dùng. Thương mại được dự báo sẽ còn tăng trưởng mạnh mẽ sau khi thực thi Hiệp định Thúc đẩy Thương mại Hoa Kỳ - Perú được ký kết vào ngày 12 tháng 4 năm 2006. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Perú là đồng, vàng, kẽm, dệt may và bột cá; các đối tác thương mại lớn nhất gồm Hoa Kỳ, Trung Quốc, Brasil và Chile.
Theo Viện Thống kê và Tin học Quốc gia (INEI), lao động phi chính thức chiếm tới 70% thị trường lao động vào năm 2019. Năm 2016, có gần ba triệu trẻ em và thanh thiếu niên làm việc trong khu vực phi chính thức này.
Khai thác khoáng sản
Perú phụ thuộc rất nhiều vào ngành khai khoáng để xuất khẩu nguyên liệu thô, lĩnh vực chiếm tới 61,3% tổng giá trị xuất khẩu vào năm 2023. Vào năm 2019, Perú là nhà sản xuất đồng và kẽm lớn thứ hai thế giới, đứng thứ tám về sản xuất vàng, đứng thứ ba về chì, thứ tư về thiếc, thứ năm về boron và thứ tư về molybden – đó là chưa kể đến khí đốt và dầu mỏ. Năm 2023, đây là nhà sản xuất bạc lớn thứ ba trên toàn cầu. Perú nắm giữ vị thế cạnh tranh đầy triển vọng trong ngành khai khoáng toàn cầu, duy trì vai trò dẫn đầu tại Mỹ Latinh với bề dày lịch sử khai thác lâu đời nhưng ít tính công nghiệp hóa; quốc gia này cũng chịu ảnh hưởng từ sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trường quốc tế.
Mỏ Yanacocha tại Cajamarca là nguồn khai thác vàng chính của Perú. Đây được coi là mỏ vàng lớn nhất Nam Mỹ và lớn thứ hai trên thế giới. Vào năm 2005, sản lượng đạt 3.333.088 ounce (94.491.500 g) vàng. Một minh chứng cho sự tăng trưởng của ngành này là giá trị xuất khẩu khoáng sản đã tăng vọt từ 1.447 triệu USD năm 1990 lên đến 39.639 triệu USD vào năm 2023.
Nông nghiệp
Perú là nhà sản xuất diêm mạch và sâm maca lớn nhất thế giới; nằm trong nhóm 5 nhà sản xuất bơ, việt quất, atisô và măng tây hàng đầu; thuộc nhóm 10 quốc gia sản xuất cà phê và ca cao lớn nhất thế giới, đồng thời là một trong 15 nhà sản xuất khoai tây và dứa hàng đầu toàn cầu. Ngoài ra, quốc gia này còn có sản lượng đáng kể về nho, mía, lúa gạo, chuối, ngô và sắn; nền nông nghiệp của Perú có tính đa dạng rất cao. Trong ngành chăn nuôi, Perú là một trong 20 quốc gia sản xuất thịt gà lớn nhất thế giới.
Theo một báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO) công bố vào tháng 8 năm 2022, một nửa dân số Perú đang rơi vào tình trạng thiếu an ninh lương thực ở mức độ vừa phải (16,6 triệu người), và hơn 20% (6,8 triệu người) thiếu an ninh lương thực nghiêm trọng: họ phải nhịn ăn cả ngày, thậm chí là vài ngày liên tục.
Giám đốc FAO tại Perú nhấn mạnh rằng: "Đây là một nghịch lý lớn đối với một quốc gia có đủ lương thực cho người dân. Perú là nước sản xuất ròng về thực phẩm và là một trong những cường quốc xuất khẩu nông sản hàng đầu trong khu vực." Tình trạng thiếu an ninh lương thực bắt nguồn từ mức độ bất bình đẳng xã hội cao và mức lương thấp (lương tối thiểu của Perú thuộc hàng thấp nhất Nam Mỹ), cùng với khu vực kinh tế phi chính thức chiếm tỷ trọng lớn. Theo FAO, chính những nông dân nhỏ lẻ lại là những người phải chịu đói. Với thu nhập thấp, họ còn phải gánh chịu tác động từ biến đổi khí hậu, đối mặt với vấn nạn buôn bán ma túy trên vùng đất của mình và các hoạt động khai khoáng làm kiệt quệ tài nguyên đất.
Du lịch
Du lịch là ngành công nghiệp lớn thứ ba tại Perú, chỉ đứng sau đánh bắt cá và khai khoáng. Ngành du lịch chủ yếu tập trung vào các di tích khảo cổ, do quốc gia này sở hữu hơn một trăm nghìn địa điểm khảo cổ. Theo một nghiên cứu của chính phủ Perú, tỷ lệ hài lòng của khách du lịch sau khi đến thăm Perú lên tới 94%. Perú đã trở thành một trong những điểm đến du lịch lớn nhất châu Mỹ và đây cũng là ngành có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất cả nước, với mức tăng trưởng hàng năm đạt 25% trong 5 năm qua, mức cao nhất so với bất kỳ quốc gia nào khác ở Nam Mỹ.
Ngành du lịch đóng góp 7% vào GDP của Perú, được quản lý và thúc đẩy bởi Ủy ban Thúc đẩy Xuất khẩu và Du lịch Perú trực thuộc Bộ Ngoại thương và Du lịch. Vì lý do này, vào năm 2011, Marca Perú đã được thành lập; đây là một sáng kiến của Bộ Ngoại thương và Du lịch phối hợp cùng các doanh nghiệp và công ty khởi nghiệp Perú nhằm thúc đẩy việc mua bán và tiêu dùng các sản phẩm được sản xuất trong nước. Các trụ cột của sáng kiến này bao gồm: xuất khẩu, du lịch và đầu tư. Ngành du lịch tạo việc làm cho 11% dân số hoạt động kinh tế của đất nước (484.000 việc làm trực tiếp và 340.000 việc làm gián tiếp), phần lớn trong lĩnh vực nhà hàng khách sạn và giao thông vận tải. Perú nổi tiếng là điểm đến hoàn hảo cho các loại hình du lịch văn hóa, sinh thái, mạo hiểm, ẩm thực, biển và du lịch nghỉ dưỡng xa xỉ.
Những địa điểm thu hút đông đảo du khách nhất là thành phố Lima cùng khu trung tâm lịch sử, Cusco – nơi nổi bật với kiến trúc thời thuộc địa và thời Inca, nhưng điểm tham quan chính lại là Thung lũng Thiêng của người Inca và Machu Picchu. Các địa danh nổi tiếng khác tại Cusco bao gồm Qorikancha, Ollantaytambo, Písac và nhiều nơi khác. Arequipa cũng là một điểm đến du lịch lớn nhờ khu trung tâm lịch sử và hẻm núi Colca, cùng với Puno thông qua Hồ Titicaca. Tuyến du lịch chính của đất nước là tuyến phía nam, bao gồm các thành phố như: Ica, Nazca, Pisco, Paracas, Ayacucho, Puerto Maldonado cùng những nơi khác với các điểm tham quan về kiến trúc, văn hóa và thiên nhiên. Tuyến đường quan trọng thứ hai là Callejón de Huaylas, thuộc vùng Áncash, trung tâm của du lịch mạo hiểm và là điểm tham chiếu chính cho nền ẩm thực Tân Andes. Perú sở hữu 14 Di sản Thế giới và 15 vườn quốc gia.
Perú còn có nhiều tuyến du lịch khác. Đáng chú ý trong số đó là các tuyến qua thung lũng Sông Mantaro với thành phố Huancayo là một trong những trục chính, và thung lũng Tarma là trục còn lại, đồng thời là cửa ngõ dẫn vào khu vực rừng rậm miền trung và thành phố phía bắc Trujillo. Tại đây có Chan Chan – thành trì bằng gạch bùn lớn nhất thế giới, khu nghỉ dưỡng ven biển truyền thống Huanchaco cùng hai kim tự tháp Huacas del Sol và Huacas de la Luna thuộc nền văn hóa Chimú. Chiclayo, Piura và thành phố rừng mưa nhiệt đới Iquitos cũng là những điểm đến rất phổ biến. Theo Bộ Ngoại thương và Du lịch, lượng khách du lịch quốc tế đã tăng 7% trong năm 2015 và mang lại 3,5 tỷ USD ngoại tệ cho đất nước.
Công nghiệp
Ngân hàng Thế giới liệt kê danh sách các quốc gia sản xuất hàng đầu mỗi năm dựa trên tổng giá trị sản xuất. Theo danh sách năm 2019, Perú có ngành công nghiệp giá trị đứng thứ 50 trên thế giới (28,7 tỷ USD). Năm 2025, Perú được xếp hạng thứ 80 trong Chỉ số Đổi mới Toàn cầu.
Trong năm 2011 và 2016, Perú là nhà cung cấp bột cá lớn nhất thế giới. Đây cũng là quốc gia sản xuất len alpaca hàng đầu thế giới và là nước xuất khẩu hàng may mặc bằng bông quan trọng nhất ở Mỹ Latinh. Nhờ nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Perú là địa điểm tuyệt vời để phát triển ngành công nghiệp polyme trên quy mô toàn cầu. Đất nước này đang trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế và được kỳ vọng sẽ trở thành một trong những quốc gia Nam Mỹ hấp dẫn nhất để phát triển kinh doanh, dựa trên các hiệp định và hiệp ước đã ký kết trong các khu vực thương mại tự do.
Giao thông
Mạng lưới đường bộ của Perú vào năm 2021 bao gồm 175.589 km (109.106 mi) đường cao tốc, trong đó có 29.579 km (18.380 mi) đã được trải nhựa. Một số tuyến đường cao tốc nổi bật của quốc gia này bao gồm Đường bộ xuyên Mỹ (Pan American Highway) và Đường bộ liên đại dương (Interoceanic Highway). Tính đến năm 2016, quốc gia này có 827 km (514 mi) đường cao tốc hai làn xe và đang tiếp tục đầu tư mở rộng với mục tiêu đạt 2.634 km (1.637 mi) vào năm 2026. Ngược lại, mạng lưới đường sắt của Perú khá nhỏ hẹp: năm 2018, cả nước chỉ có 1.939 km (1.205 mi) đường sắt.
Perú có các sân bay quốc tế quan trọng như sân bay tại Lima, Cuzco và Arequipa. Năm 2017, trong danh sách 10 sân bay bận rộn nhất Nam Mỹ có tên Lima (Perú), bên cạnh các sân bay lớn khác như São Paulo-Guarulhos (Brasil), Bogotá (Colombia) và Santiago (Chile). Hiện tại, nhiều dự án mở rộng sân bay đang được triển khai trên khắp Perú, tiêu biểu là Sân bay quốc tế Jorge Chávez và Sân bay quốc tế Chinchero. Sân bay Jorge Chávez, lớn nhất Perú, đang được nâng cấp với đường băng mới, tháp điều khiển và nhà ga mới, cùng hệ thống khách sạn và khu hậu cần, tạo nên một "Thành phố Sân bay" (Ciudad Aeropuerto). Dự kiến hoàn thành vào tháng 12 năm 2024, công trình này sẽ cho phép phục vụ 40 triệu hành khách mỗi năm. Một dự án đầy tham vọng khác là Sân bay quốc tế Chinchero tại Cusco, nhằm thay thế sân bay cũ Alejandro Velasco Astete, giúp du khách có thể bay thẳng quốc tế mà không cần quá cảnh tại Lima.
Perú có các cảng biển quan trọng tại Callao, Ilo và Matarani. Năm 2018, Callao (Perú) nằm trong danh sách 15 cảng biển hoạt động mạnh nhất Nam Mỹ. Cảng Callao hiện là cảng lớn nhất Perú, nhưng vị trí này sớm muộn sẽ thuộc về Cảng Chancay, một dự án liên doanh giữa Trung Quốc và Perú tại Chancay, phía bắc Lima. Khi hoàn thành, đây sẽ là cảng biển lớn nhất Mỹ Latinh. Được khánh thành chính thức vào ngày 14 tháng 11 năm 2024, Cảng Chancay đóng vai trò là cửa ngõ then chốt cho giao thương giữa Nam Mỹ và châu Á, giúp giảm đáng kể thời gian vận chuyển xuyên Thái Bình Dương.
Năng lượng
Ngành điện lực của Perú đã có những cải thiện đáng kể trong những năm gần đây. Tỷ lệ hộ gia đình có điện thắp sáng tăng từ 82% năm 2007 lên 94,2% vào năm 2016, đồng thời chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ cũng được nâng cao. Công suất phát điện hiện tại được chia đều giữa các nguồn nhiệt điện và thủy điện. Hệ thống Điện Liên kết Quốc gia cung cấp cho 85% dân số, phần còn lại của đất nước được bao phủ bởi một số hệ thống độc lập. Tổng sản lượng điện của Perú đạt 5,1 TWh vào tháng 10 năm 2022. Trong đó, 52% đến từ các nhà máy thủy điện, 38,3% từ các nhà máy nhiệt điện (sử dụng dầu, khí đốt và than đá) và 9,7% từ các nhà máy năng lượng tái tạo như: điện gió, điện mặt trời và các nguồn khác.
Năm 2021, về công suất điện tái tạo đã lắp đặt, Perú sở hữu 5.490 MW thủy điện (đứng thứ 34 thế giới), 409 MW điện gió (thứ 49 thế giới), 336 MW điện mặt trời (thứ 62 thế giới) và 185 MW điện sinh khối.
Nhân khẩu
Với dân số 33.396.698 người theo ước tính và dự báo của Viện Thống kê và Tin học Quốc gia tính đến năm 2022, Perú là quốc gia đông dân thứ tư tại Nam Mỹ. Mật độ dân số đạt 25,79 người trên kilômét vuông (66,8/sq mi) và tỷ lệ tăng trưởng hàng năm là 1,1%. Khoảng 58,8% dân số Perú sống ở vùng duyên hải, 27% ở vùng núi và 14,2% ở vùng rừng rậm. Vào năm 2020, 27 triệu người Perú sống ở các khu vực thành thị, chiếm 80% tổng dân số. Năm 1940, dân số Perú mới chỉ ở mức 7 triệu người; trong giai đoạn từ 1950 đến 2000, tỷ lệ tăng trưởng nhân khẩu học đã giảm từ 2,6% xuống 1,6%, và dân số dự kiến sẽ đạt khoảng 42 triệu người vào năm 2050.
Tính đến năm 2017, 79,3% dân số sống ở thành thị và 20,7% ở nông thôn. Các thành phố lớn bao gồm Vùng đô thị Lima (nơi sinh sống của hơn 9,8 triệu người), Arequipa, Trujillo, Chiclayo, Piura, Iquitos, Cusco, Chimbote, và Huancayo; tất cả đều có hơn 250.000 cư dân theo cuộc tổng điều tra dân số năm 2007. Arequipa là thành phố lớn thứ hai của Perú với dân số ước tính là 1.177.000 người, trong khi Trujillo lớn thứ ba với 1.048.000 người. Ngoài ra, có 15 bộ lạc Amerindian chưa được tiếp xúc được biết đến tại Perú. Theo dữ liệu mới nhất năm 2016 của Ngân hàng Thế giới, Perú có tuổi thọ trung bình là 75,0 tuổi (72,4 đối với nam và 77,7 đối với nữ).
Dân số hoạt động kinh tế tương đương 53,78% tổng dân số, tức khoảng 17.830.500 người. Các thành phố lớn nhất tập trung ở vùng duyên hải như Sullana, Piura, Chiclayo, Trujillo, Chimbote, Lima và Ica. Ở vùng núi, nổi bật là các thành phố Arequipa, Cusco, Huancayo, Cajamarca và Juliaca. Cuối cùng, tại vùng rừng rậm, Iquitos là thành phố quan trọng nhất, tiếp theo là Pucallpa, Tarapoto, Moyobamba và Tingo María.
Sắc tộc
Perú là một nước đa sắc tộc được hình thành bởi các làn sóng di cư của nhiều nhóm dân tộc khác nhau trong suốt năm thế kỷ. Người Amerindian đã sinh sống trên lãnh thổ Perú hàng thiên niên kỷ trước khi người Tây Ban Nha xâm chiếm vùng đất này vào thế kỷ 16; theo nhà sử học Noble David Cook, dân số của họ đã giảm từ gần 5–9 triệu người vào những năm 1520 xuống còn khoảng 600.000 người vào năm 1620, chủ yếu do các bệnh truyền nhiễm.
Cuộc điều tra dân số năm 2017 lần đầu tiên đưa vào câu hỏi về việc tự nhận dạng sắc tộc. Theo kết quả, 60,2% người dân tự nhận mình là người lai (Mestizo), 22,3% là Người Quechua, 5,9% là người da trắng, 3,6% là người da đen, 2,4% là Người Aymara, 2,3% thuộc các nhóm dân tộc khác và 3,3% không khai báo sắc tộc. Qua các giai đoạn lịch sử khác nhau của Perú, thành phần sắc tộc đã có sự thay đổi với tỷ lệ người Amerindian giảm liên tục do nhiều yếu tố kinh tế xã hội, văn hóa, kiểm soát sinh sản, tỷ lệ tử vong cao và sự loại trừ xã hội. Từ thời thuộc địa đến nay, các nhóm sắc tộc tại Perú dần hòa nhập và kết hôn chéo với nhau, tạo nên một cộng đồng người lai chiếm đa số. Tuy nhiên, điều này lại nảy sinh một nghịch lý: nhiều người lai tự coi mình là tầng lớp 'cao cấp' hơn so với những thổ dân ở vùng núi hay rừng sâu. Họ phân biệt đối xử với người bản địa chỉ vì những lý do như giọng nói địa phương hoặc trình độ học vấn thấp, tạo nên một hình thái phân biệt chủng tộc âm thầm trong xã hội.
Trong thời kỳ Phó vương quốc Perú, người Tây Ban Nha và người châu Phi đã đến với số lượng lớn, hòa huyết rộng rãi với nhau và với quần thể bản địa, chủ yếu ở vùng duyên hải (vùng núi và rừng rậm vẫn duy trì đa số thổ dân ít bị pha trộn). Sau khi độc lập, đã có các làn sóng nhập cư từ châu Âu như Tây Ban Nha, Ý, Anh, Pháp, Đức, cùng với Trung Đông. Perú đã giải phóng nô lệ da đen vào năm 1854. Người Trung Quốc và Nhật Bản đến vào những năm 1850 dưới dạng lao động sau khi chế độ nô lệ kết thúc, và từ đó đã trở thành một thành phần có ảnh hưởng lớn trong xã hội Perú. Những người nhập cư Croatia đầu tiên đến Perú từ Dubrovnik vào năm 1573.
Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.