en

Việt Nam

quốc gia ở Đông Nam Á

Việt Nam

Việt Nam, quốc hiệu đầy đủ là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là một quốc gia nằm ở cực Đông của bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, giáp với Lào, Campuchia, Trung Quốc, biển Đông và vịnh Thái Lan.

Lãnh thổ Việt Nam xuất hiện con người sinh sống từ thời đại đồ đá cũ, khởi đầu với các nhà nước Văn Lang, Âu Lạc. Âu Lạc bị nhà Triệu ở phương Bắc thôn tính vào đầu thế kỷ thứ 2 TCN sau đó là thời kỳ Bắc thuộc kéo dài hơn một thiên niên kỷ. Chế độ quân chủ độc lập được tái lập sau chiến thắng của Ngô Quyền trước nhà Nam Hán, mở đường cho các triều đại độc lập kế tục, nhiều lần chiến thắng trước các cuộc chiến tranh xâm lược từ phương Bắc đồng thời dần mở rộng về phía nam. Thời kỳ Bắc thuộc cuối cùng kết thúc sau chiến thắng trước nhà Minh của nghĩa quân Lam Sơn.

Đến thời cận đại, Việt Nam lần lượt trải qua các giai đoạn Pháp thuộc và Nhật thuộc. Sau khi đánh bại và buộc Nhật Bản đầu hàng, khối Đồng Minh tạo điều kiện cho Pháp thu hồi Liên bang Đông Dương. Kết thúc Thế chiến II, Việt Nam chịu sự can thiệp của các nước Đồng Minh bao gồm Anh, Pháp (miền Nam), Trung Hoa Dân Quốc (miền Bắc). Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo ra đời khi Hồ Chí Minh tuyên bố độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 sau thành công của Cách mạng Tháng Tám và chiến thắng Liên hiệp Pháp cùng Quốc gia Việt Nam do Pháp hậu thuẫn trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Sự kiện này dẫn tới Hiệp định Genève (1954) được ký kết và Việt Nam bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự, lấy ranh giới là vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát phần phía bắc còn phía nam do Việt Nam Cộng hòa (nhà nước kế tục Quốc gia Việt Nam) kiểm soát và được Hoa Kỳ hậu thuẫn. Xung đột về thống nhất lãnh thổ đã dẫn tới chiến tranh Việt Nam với sự can thiệp của nhiều nước và kết thúc với chiến thắng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cùng sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa vào năm 1975. Chủ quyền phần phía Nam được chính quyền Cộng hòa miền Nam Việt Nam (do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập) giành quyền kiểm soát. Năm 1976, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam thống nhất thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sau khi tái thống nhất, Việt Nam tiếp tục gặp khó khăn do sự sụp đổ và tan rã của đồng minh Liên Xô cùng Khối phía Đông, các lệnh cấm vận của Hoa Kỳ, chiến tranh Đông Dương lần ba và hậu quả của chính sách bao cấp sau nhiều năm áp dụng. Năm 1986, Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành cải cách đổi mới, xây dựng kinh tế thị trường và hội nhập sâu rộng. Cải cách kinh tế cùng quy mô dân số lớn đưa Việt Nam trở thành một trong những nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm nhanh nhất thế giới, được coi là Hổ mới châu Á dù cho vẫn gặp phải những thách thức như tham nhũng và phúc lợi xã hội chưa đầy đủ. Ngoài ra, giới bất đồng chính kiến và các tổ chức theo dõi nhân quyền có quan điểm chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Việt Nam liên quan đến các vấn đề tôn giáo, kiểm duyệt truyền thông và tự do dân sự.

Tên gọi

=== Nguồn gốc tên gọi ===

Các nhà nước trong lịch sử Việt Nam có những quốc hiệu khác nhau như Xích Quỷ, Văn Lang, Đại Việt, Đại Nam hay Việt Nam. Chữ Việt Nam (越南) được cho là việc đổi ngược lại của quốc hiệu Nam Việt (南越) thời Triệu Vũ Ðế. Chữ "Việt" 越 đặt ở đầu biểu thị đất Việt Thường, cương vực cũ của nước này, từng được dùng trong các quốc hiệu Đại Cồ Việt (大瞿越) và Đại Việt (大越), là các quốc hiệu từ thế kỷ 10 tới đầu thế kỷ 19. Chữ "Nam" 南 đặt ở cuối thể hiện đây là vùng đất phía nam, là vị trí cương vực, từng được dùng cho quốc hiệu Đại Nam (大南), và trước đó là một cách gọi phân biệt Đại Việt là Nam Quốc (như "Nam Quốc Sơn Hà") với Bắc Quốc là Trung Hoa.

Vua Gia Long nhà Nguyễn chính thức sử dụng quốc hiệu "Việt Nam" từ năm 1804. Sau đó Nhà Thanh công nhận Việt Nam là quốc hiệu của Nhà Nguyễn. Đặt quốc hiệu là "Việt Nam" để không nhầm với nước Nam Việt, cũng như thể hiện vị trí địa lý nằm ở phía nam Bách Việt. Trùng hợp là trước đó mấy trăm năm, trong Sấm Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dùng tên "Việt Nam" làm tên chính thức, mặc dù khi đó vẫn còn sử dụng quốc hiệu "Đại Việt". Năm 1804, vua Thanh cho án sát sứ Quảng Tây Tề Bố Sâm sang tuyên phong Gia Long làm "Việt Nam quốc vương" 越南國王 mặc dù các vua nhà Nguyễn vẫn theo lệ cũ tự phong "Hoàng đế" 皇帝 cho ngang hàng với vua Trung Quốc.

Tên gọi "Việt Nam" cũng xuất hiện trong tác phẩm Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu năm 1905 và trong tên gọi Việt Nam Quốc dân Đảng. Tên gọi "An Nam" cũng có trong thời Pháp thuộc. Năm 1945, Đế quốc Việt Nam ra đời và tiếp tục đặt quốc hiệu "Việt Nam". Sau đó tất cả những nhà nước ở Việt Nam sau năm 1945 đều sử dụng quốc hiệu này.

Trong văn viết tiếng nước ngoài

Trong văn viết tiếng Anh hiện nay, cách viết thông dụng nhất cho tên gọi Việt Nam là Vietnam (viết liền không dấu cách cho từ ghép, là một kiểu Anh hoá tên gọi để phù hợp với cấu trúc từ vựng cũng như chính tả của tiếng Anh), dẫn đến thêm tiếp tố "-ese" để tạo ra tính từ là Vietnamese. Ở Việt Nam tồn tại thêm hai cách viết giữ dấu cách là "Viet Nam" (bỏ dấu) và "Việt Nam" (để đầy đủ dấu theo chữ Quốc ngữ). Điều này có thể nhận thấy trên website của Chính phủ Việt Nam và Bộ Ngoại giao Việt Nam cho phiên bản tiếng Anh trước đây có dùng cả 3 cách: "Vietnam", "Viet Nam" hoặc "Việt Nam". Từ điển tiếng Anh Oxford mới chỉ ghi nhận cách viết Vietnam cho danh từ và Vietnamese cho tính từ, chưa có ghi nhận "Viet Nam" và "Viet Namese". Danh sách liệt kê thành viên trên trang web của Liên Hợp Quốc viết tên quốc gia này là "Viet Nam" trong khi các bài viết tiểu mục thì vẫn viết là "Vietnam". Còn Bộ Ngoại giao Việt Nam và Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO) thì sử dụng "Viet Nam" và quốc hiệu "the Socialist Republic of Viet Nam" như là tên gọi tiêu chuẩn trên các văn bản tiếng nước ngoài, chủ yếu trên các văn bản và văn hóa phẩm tiếng Anh được phát hành bởi Nhà nước Việt Nam. Nhìn chung, cả "Vietnam" hay "Viet Nam" đều được chấp nhận trong tiếng Anh, trong đó "Vietnam" được dùng phổ biến hơn trong các phương tiện truyền thông từ nước ngoài.

Với hầu hết ngôn ngữ khác dùng chữ Latinh như tiếng Tây Ban Nha, tiếng Đức, tiếng Ý,... chủ yếu cũng sử dụng cách viết "Vietnam", và một số ngôn ngữ có cách viết khác như "Vietnã" (tiếng Bồ Đào Nha), "Wietnam" (tiếng Ba Lan), "Vítneam" (tiếng Ireland), tuỳ vào cấu trúc bảng chữ cái Latinh của mỗi ngôn ngữ, nhưng đều viết liền không dấu cách. Các ngôn ngữ khác dùng những hệ chữ viết có họ hàng gần với chữ Latinh như chữ Cyrill hay chữ Hy Lạp cũng thường viết liền không dấu cách để chỉ Việt Nam như "Вьетнам" (tiếng Nga), "Вијетнам" (tiếng Serbia), "Βιετνάμ" (tiếng Hy Lạp).

Lịch sử

Các nhà khảo cổ học tìm thấy những dấu vết của người đứng thẳng thời đồ đá cũ trên lãnh thổ Việt Nam cách đây khoảng 500.000 năm; các công cụ thô sơ bằng đá và các dấu răng của người tiền sử được phát hiện tại các tỉnh Lạng Sơn, Thanh Hóa, Yên Bái, Ninh Bình và Quảng Bình Ngoài ra, tại các vùng phía Bắc, con người sinh sống trong các hang động đá vôi và sống bằng các hoạt động săn thú, hái lượm. Trong khi đó, tại các vùng duyên hải miền Trung như Nghệ An, con người chủ yếu sống bằng đánh cá.

Đến thời đại đồ đá mới cách đây 5000 đến 6000 năm, người Việt cổ bắt đầu biết canh tác lúa nước; loạt dấu vết trồng lúa có từ cao nguyên tới đồng bằng. Ngoài ra, con người bắt đầu biết chế tác công cụ theo kiểu khác và làm đồ gốm với kỹ thuật khác. Đến khoảng thiên niên kỷ I TCN vào cuối thời kỳ đồ đồng, khu vực lúa nước ở sông Hồng và sông Cả phát triển thành nền văn hóa Đông Sơn rồi cùng thời gian đó, những nhà nước đầu tiên lần lượt xuất hiện đó là Văn Lang và Âu Lạc.

Từ thế kỷ II TCN, các triều đại phong kiến từ phương Bắc cai trị một phần Việt Nam hơn 1000 năm. Sự cai trị này bị ngắt quãng bởi những cuộc khởi nghĩa của những tướng lĩnh như Bà Triệu, Mai Thúc Loan, Hai Bà Trưng hay Lý Bí. Năm 905, Khúc Thừa Dụ giành quyền tự chủ, không phải là độc lập vì Dụ tự nhận mình là quan triều đình phương Bắc. Đến năm 938, sau khi chỉ huy trận sông Bạch Đằng đánh bại quân Nam Hán, Ngô Quyền lập triều xưng vương, đánh dấu một nhà nước độc lập khỏi các triều đình phương Bắc vào năm 939.

Sau nhà Ngô, lần lượt các triều Đinh, Tiền Lê, Lý và Trần tổ chức chính quyền tương tự các triều đại Trung Hoa, lấy Phật giáo làm tôn giáo chính của quốc gia và cho truyền bá cả Nho giáo và Đạo giáo. Nhà Tiền Lê, Lý và Trần đã chống trả các cuộc tấn công của nhà Tống và nhà Mông – Nguyên, đều thắng lợi và bảo vệ được Đại Việt. Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập nhà Hồ, đổi tên nước là Đại Ngu, tiến hành cải cách. Năm 1407, Đại Ngu bị Nhà Minh thôn tính. một số thành viên hoàng tộc nhà Trần khởi nghĩa, lập nhà Hậu Trần và bị quân Minh đánh bại sau 7 năm. Năm 1427, Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, lập nhà Hậu Lê, giành lại độc lập (năm 1428). Có quan điểm cho rằng đây là triều đại mà phong kiến Việt Nam đạt "đỉnh cao" đặc biệt là đời vua Lê Thánh Tông (1460–1497).

Vào đầu thế kỷ XVI, Nhà Lê sơ bị Nhà Mạc cướp ngôi nên một bộ phận quan lại trung thành đã lập người khác trong dòng dõi vua Lê lên làm vua, tái lập Nhà Lê. Nhà Lê trung hưng sau 60 năm giao tranh đã chiến thắng, diệt Nhà Mạc. Vua Lê khi đó là bù nhìn, hai tập đoàn phong kiến Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn tranh chấp nhau, gây chiến tranh kéo dài hơn 100 năm, chia cắt Đại Việt thành đàng Ngoài và đàng Trong trong 200 năm. Cuối thế kỷ XVIII, tướng khởi nghĩa Nguyễn Huệ trong 15 năm đã đánh bại cả Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn cùng các cuộc xâm chiếm của Xiêm và Thanh để lập Nhà Tây Sơn. Nguyễn Huệ mất, với người kế vị Cảnh Thịnh, nhà Tây Sơn bị Nguyễn Ánh – một thành viên dòng họ Chúa Nguyễn cùng với viện trợ từ Pháp và Xiêm lật đổ, lập Nhà Nguyễn, triều đại cuối cùng ở Việt Nam. Thời phong kiến, các triều Lý, Trần, Hậu Lê và chúa Nguyễn thu phục Chiêm Thành, Chân Lạp và Tây Nguyên ở phía Nam.

Phương Tây tiếp cận Việt Nam từ thế kỷ XVI. Vào thế kỷ XVII, Đàng Trong và Đàng Ngoài trao đổi thương mại trước hết với Bồ Đào Nha và Hà Lan, sau thêm Anh và Pháp. Các tu sĩ Dòng Tên do Bồ Đào Nha bảo trợ đến truyền bá Công giáo từ năm 1615 rồi Hội Thừa sai Paris và Dòng Đa Minh tiếp nối. Công giáo tại Việt Nam phát triển trong 2 thế kỷ tiên khởi XVII và XVIII. Từ thời Gia Long, Nhà Nguyễn bế quan tỏa cảng, cấm ngoại thương, không tiếp xúc công nghệ tiên tiến. Nửa sau thế kỷ 19, Pháp xâm lược bán đảo Đông Dương, thâu tóm nhà Nguyễn và thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887. Thời Pháp thuộc, văn hóa, khoa học, kỹ thuật từ phương Tây được tăng cường truyền bá.Thế chiến thứ 2, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, dựng nên Đế quốc Việt Nam, chính thể bù nhìn này phải nộp thuế và cung ứng cho Nhật tài nguyên có lúa gạo, góp phần gây nạn đói Ất Dậu. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh giành chính quyền, đọc Tuyên ngôn Độc lập thành lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2 tháng 9 năm 1945. Pháp tính lấy lại Đông Dương, nhưng vấp phải sự phản kháng của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên đã buộc phải hậu thuẫn lập Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại, cựu hoàng đế Nhà Nguyễn làm Quốc trưởng.

Năm 1954, Chiến tranh Đông Dương kết thúc, Pháp phải công nhận sự độc lập của Việt Nam và rút quân, xuất hiện 2 vùng tập kết quân sự chờ cuộc bầu cử thống nhất đất nước nhưng không thành do Hoa Kỳ hậu thuẫn cho Việt Nam Cộng hòa (chính phủ kế thừa Quốc gia Việt Nam) từ chối tổ chức bầu cử. Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hậu thuẫn các lực lượng miền Nam nổi dậy chống Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, gây ra xung đột quân sự mà tiếp theo đó là sự tham chiến của quân đội Hoa Kỳ và đồng minh. Chiến tranh kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tuyên bố đầu hàng.

Năm 1976, Cộng hòa Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tuyển cử hợp nhất. Do hậu quả chiến tranh, rồi chiến tranh biên giới phía Bắc, chiến tranh biên giới Tây Nam, chính sách bao cấp và bị Hoa Kỳ cấm vận, nước Việt Nam thời hậu chiến phải đối mặt với các vấn đề nghiêm trọng trong lĩnh vực kinh tế-xã hội. Năm 1986, Đại hội Đảng lần VI chấp thuận Đổi mới, cải tổ nhà nước và chuyển nền kinh tế theo hướng mới. Việt Nam bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ năm 1995 và gia nhập ASEAN vào cùng năm. Năm 2007, Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế thế giới WTO.

Địa lý

Việt Nam nằm ở phía đông Đông Nam Á lục địa giữa các vĩ độ 8° và 24°B, và các kinh độ 102° và 110°Đ. Quốc gia này có tổng diện tích là 331.210 km2 (127.881 dặm vuông Anh) hoặc 331,699 km2 (128 dặm vuông Anh). Tổng chiều dài đường biên giới đất liền của quốc gia là 4.639 km (2.883 mi), và đường bờ biển dài 3.444 km (2.140 mi). Tại điểm hẹp nhất ở tỉnh Quảng Bình thuộc miền Trung, quốc gia này chỉ rộng 50 kilômét (31 mi), trong khi mở rộng tới khoảng 600 kilômét (370 mi) ở miền Bắc. Lãnh thổ Việt Nam chủ yếu là đồi núi và rừng rậm, với vùng đất bằng phẳng chiếm không quá 20%. Núi chiếm 40% diện tích đất liền của cả nước, và rừng nhiệt đới bao phủ khoảng 42%. Sông Hồng chảy qua Hà Nội ở miền Bắc Việt Nam trước khi đổ ra Vịnh Bắc Bộ. Đồng bằng sông Hồng là một vùng đồng bằng thấp, bằng phẳng, có dạng hình tam giác tương đối với diện tích 15.000 km2 (5.792 dặm vuông Anh). Đây là vùng có diện tích nhỏ nhất nhưng có dân số và mật độ dân số cao nhất trong tất cả các vùng ở Việt Nam. Nơi đây chằng chịt mạng lưới sông ngòi và kênh rạch, mang theo nhiều trầm tích đến mức vùng đồng bằng này tiến thêm 60 đến 80 mét (196,9 đến 262,5 ft) ra Biển Đông mỗi năm. Vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam bao phủ diện tích 417.663 km2 (161.261 dặm vuông Anh) tại Biển Đông.

Miền Nam Việt Nam được chia thành các vùng đất thấp ven biển, dãy núi Trường Sơn, và rừng. Bao gồm năm cao nguyên đất bazan, vùng Tây Nguyên chiếm 16% diện tích đất canh tác của cả nước và 22% tổng diện tích đất rừng. Đất đai ở hầu hết khu vực miền Nam Việt Nam có hàm lượng chất dinh dưỡng thấp hơn do kết quả của quá trình canh tác. Phần phía bắc của đất nước chủ yếu bao gồm vùng cao và Đồng bằng sông Hồng. Fansipan, đỉnh núi nằm trên ranh giới giữa hai tỉnh Lào Cai và Lai Châu, là ngọn núi cao nhất trên Bán đảo Đông Dương, với độ cao 3.143 m (10.312 ft). Từ bắc vào nam Việt Nam, quốc gia này có nhiều hòn đảo; Phú Quốc là hòn đảo lớn nhất. Hồ Ba Bể là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam, và sông Mê Kông là con sông dài nhất cả nước. Hang Sơn Đoòng là một hang động được khảo sát lần đầu tiên vào năm 2009 bởi một đoàn thám hiểm từ Hiệp hội Nghiên cứu Hang động Anh. Hang động này dài hơn 8,8 km (5,5 mi), và một số khoang của nó đủ lớn để chứa một tòa nhà chọc trời 40 tầng. Nó có một hố sụt, sâu hơn 183 m (600 ft), bên dưới hố sụt này phát triển một khu rừng mưa nhiệt đới với những cây cao gần 30 m (98 ft). Khu rừng này là nơi sinh sống của khỉ và các loài động vật khác thường không tìm thấy trong môi trường lòng đất. Một con sông ngầm chảy bên trong hang động.

Khí hậu

Do sự khác biệt về vĩ độ và sự đa dạng về địa hình, khí hậu Việt Nam có sự thay đổi theo từng vùng miền. Trong mùa đông hoặc mùa khô, kéo dài khoảng từ tháng 11 đến tháng 4, gió mùa thổi chủ yếu từ hướng đông bắc dọc theo bờ biển Trung Quốc và băng qua Vịnh Bắc Bộ, mang theo hơi ẩm. Nhiệt độ trung bình năm nhìn chung ở vùng đồng bằng cao hơn ở vùng núi, và ở miền Nam thường cao hơn so với miền Bắc. Khu vực phía Bắc có khí hậu cận nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng của gió mùa với bốn mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu và đông), trong đó mùa đông thường khô ráo và mùa hè dao động từ nóng đến ôn hòa. Ở các khu vực phía Nam và miền Trung, khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa với hai mùa (mùa mưa và mùa khô). Nhiệt độ ít biến động hơn ở các vùng đồng bằng phía Nam quanh Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long, dao động trong khoảng từ 21 đến 35 °C (70 đến 95 °F) trong suốt cả năm. Tại Hà Nội và các khu vực lân cận thuộc Đồng bằng sông Hồng, nhiệt độ thấp hơn, trong khoảng từ 15 đến 33 °C (59 đến 91 °F). Sự biến đổi theo mùa ở vùng núi, cao nguyên và các khu vực cực Bắc diễn ra mạnh mẽ hơn, với nhiệt độ thay đổi từ 3 °C (37 °F) vào tháng 12 và tháng 1 đến 37 °C (99 °F) vào tháng 7 và tháng 8. Vào mùa đông, tuyết thỉnh thoảng rơi trên những đỉnh núi cao nhất ở vùng núi phía Bắc gần biên giới Trung Quốc. Việt Nam có lượng giáng thủy dưới dạng mưa với mức trung bình từ 1.500 đến 2.000 mm (60 đến 80 in) trong các mùa gió mùa; điều này đôi khi gây ra lũ lụt, đặc biệt là ở một số thành phố. Quốc gia này cũng chịu ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới, bão nhiệt đới và bão lớn (typhoon). 55% dân số Việt Nam sinh sống tại các vùng ven biển có độ cao thấp.

Đa dạng sinh học

Vì nằm trong khu vực sinh thái Indomalaya, Việt Nam là một trong hai mươi lăm quốc gia được coi là sở hữu mức độ đa dạng sinh học cao một cách độc đáo. Điều này đã được ghi nhận trong Báo cáo Hiện trạng Môi trường Quốc gia năm 2005. Việt Nam đứng thứ 16 trên toàn thế giới về đa dạng sinh học, là nơi sinh sống của khoảng 16% các loài trên thế giới. 15.986 loài hệ thực vật đã được xác định trong nước, trong đó 10% là loài đặc hữu. Hệ động vật của Việt Nam bao gồm 307 loài tuyến trùng, 200 loài giun ít tơ, 145 loài ve bét, 113 loài bọ nhảy, 7.750 loài côn trùng, 260 loài bò sát và 120 loài lưỡng cư. Có 840 loài chim và 310 loài động vật có vú được tìm thấy tại Việt Nam, trong đó có 100 loài chim và 78 loài động vật có vú là đặc hữu. Việt Nam có hai Di sản Thiên nhiên Thế giới—Vịnh Hạ Long và Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng—cùng với chín khu dự trữ sinh quyển, bao gồm Rừng ngập mặn Cần Giờ, Cát Tiên, Cát Bà, Kiên Giang, Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nghệ An, Cà Mau, và Cù Lao Chàm.

Việt Nam cũng là nơi sinh sống của 1.438 loài vi tảo nước ngọt, chiếm 9,6% tổng số loài vi tảo, cùng với 794 loài động vật không xương sống thủy sinh và 2.458 loài cá biển. Trong một số năm, có 13 chi, 222 loài và 30 tổ hợp phân loại thực vật mới đã được mô tả tại Việt Nam. Sáu loài động vật có vú mới, bao gồm sao la, mang lớn, và voọc mũi hếch cũng đã được phát hiện, cùng với một loài chim mới là loài gà lôi Edwards đang cực kỳ nguy cấp. Vào thập niên 1980, một quần thể Tê giác Java đã được tìm thấy tại Vườn quốc gia Cát Tiên. Cá thể cuối cùng của loài này tại Việt Nam được báo cáo là đã bị bắn chết vào năm 2010. Về đa dạng di truyền nông nghiệp, Việt Nam là một trong mười hai trung tâm cây trồng gốc của thế giới. Ngân hàng Gen Cây trồng Quốc gia Việt Nam đang bảo tồn 12.300 giống cây trồng của 115 loài. Chính phủ Việt Nam đã chi 49,07 triệu đô la Mỹ cho việc bảo tồn đa dạng sinh học chỉ riêng trong năm 2004 và đã thành lập 126 khu bảo tồn, bao gồm 30 vườn quốc gia.

Tại Việt Nam, nạn săn bắn trộm động vật hoang dã đã trở thành một mối lo ngại. Năm 2000, một Tổ chức phi chính phủ (NGO) mang tên Trung tâm Giáo dục Thiên nhiên (ENV) đã được thành lập nhằm thấm nhuần vào người dân tầm quan trọng của việc bảo tồn động vật hoang dã trong nước. Trong những năm tiếp theo, một tổ chức phi chính phủ khác mang tên GreenViet đã được thành lập bởi những thanh niên Việt Nam nhằm thực thi việc bảo vệ động vật hoang dã. Thông qua sự hợp tác giữa các tổ chức phi chính phủ và chính quyền địa phương, một số đường dây săn trộm địa phương đã bị triệt phá sau vụ bắt giữ những kẻ cầm đầu. Một nghiên cứu công bố năm 2018 cho thấy Việt Nam là điểm đến của hoạt động xuất khẩu lậu sừng tê giác từ Nam Phi do nhu cầu sử dụng chúng như một loại thuốc và một biểu tượng của địa vị.

Một mối quan tâm về môi trường khác ở Việt Nam là hệ lụy từ việc sử dụng chất diệt cỏ hóa học Chất độc da cam, thứ tiếp tục gây ra các dị tật bẩm sinh và các vấn đề sức khỏe cho người dân Việt Nam. Tại các khu vực miền Nam và miền Trung bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi việc sử dụng hóa chất này trong Chiến tranh Việt Nam, gần 4,8 triệu người Việt Nam đã bị phơi nhiễm và chịu đựng những hậu quả của nó. Vào năm 2012, khoảng 50 năm sau chiến tranh, Hoa Kỳ đã bắt đầu một dự án làm sạch chung trị giá 43 triệu đô la Mỹ tại các khu vực lưu trữ hóa chất cũ ở Việt Nam, được thực hiện theo từng giai đoạn. Sau khi hoàn thành giai đoạn đầu tại Đà Nẵng vào năm 2017, Hoa Kỳ đã công bố cam kết làm sạch các địa điểm khác, đặc biệt là tại khu vực Biên Hòa.

Chính phủ Việt Nam chi hơn 10 nghìn tỷ đồng mỗi năm (431,1 triệu đô la) cho các khoản trợ cấp hàng tháng và phục hồi chức năng cho các nạn nhân chất độc hóa học. Vào năm 2018, tập đoàn kỹ thuật Nhật Bản Shimizu Corporation, phối hợp với quân đội Việt Nam, đã xây dựng một nhà máy xử lý đất ô nhiễm chất độc da cam. Chi phí xây dựng nhà máy do chính công ty tự chi trả. Một trong những kế hoạch để khôi phục các hệ sinh thái bị hư hại ở miền Nam Việt Nam là thông qua các nỗ lực gây rừng. Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu thực hiện việc này ngay khi chiến tranh kết thúc. Công việc bắt đầu bằng việc trồng lại các rừng ngập mặn ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và tại Cần Giờ, ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh, nơi các rừng ngập mặn giúp giảm thiểu tình trạng lũ lụt trong mùa gió mùa. Quốc gia này có điểm trung bình Chỉ số tính toàn vẹn của cảnh quan rừng năm 2019 là 5,35/10, xếp hạng 104 toàn cầu trong tổng số 172 quốc gia.

Ngoài vấn đề về thuốc diệt cỏ, việc nhiễm độc asen trong nước ngầm ở Đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng đã trở thành một mối lo ngại. Vật liệu chưa nổ (UXO) gây ra những nguy hiểm cho con người và động vật hoang dã—một hệ lụy khác từ các cuộc chiến tranh. Như một phần của chiến dịch liên tục nhằm rà phá và loại bỏ các vật liệu chưa nổ, một số cơ quan gỡ bom quốc tế từ Vương quốc Anh, Đan Mạch, Hàn Quốc và Hoa Kỳ đã và đang hỗ trợ tích cực. Chính phủ Việt Nam chi hơn 1 nghìn tỷ đồng (44 triệu đô la) hàng năm cho các hoạt động rà phá bom mìn và thêm hàng trăm tỷ đồng cho việc điều trị, hỗ trợ, phục hồi chức năng, đào tạo nghề và tái định cư cho các nạn nhân của vật liệu chưa nổ.

Chính trị

Việt Nam là một quốc gia đơn nhất, cộng sản tự xác định là một cộng hòa xã hội chủ nghĩa, một trong hai quốc gia cộng sản (quốc gia còn lại là Lào) tại Đông Nam Á. Mặc dù Việt Nam vẫn chính thức cam kết tuân thủ chủ nghĩa xã hội như là tôn chỉ xác định của mình, các chính sách kinh tế của quốc gia này ngày càng mang tính tư bản chủ nghĩa, với tạp chí The Economist mô tả ban lãnh đạo là những "người cộng sản nhiệt thành với tư bản". Theo Hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) khẳng định vai trò của mình trong tất cả các lĩnh vực chính trị của đất nước. Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia do bầu chọn và là tổng tư lệnh quân đội, giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh tối cao, giữ chức vụ cao thứ hai tại Việt Nam, thực hiện các chức năng hành pháp, bổ nhiệm các chức danh nhà nước và hoạch định chính sách.

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện các chức năng điều hành, kiểm soát tổ chức quốc gia của Đảng. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ, chủ trì Hội đồng Bộ trưởng bao gồm năm phó thủ tướng và người đứng đầu của 26 bộ và cơ quan ngang bộ. Chỉ các tổ chức chính trị liên kết với hoặc được Đảng Cộng sản Việt Nam tán thành mới được phép tham gia tranh cử tại Việt Nam. Các tổ chức này bao gồm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng các đảng của công nhân và người lao động.

Quốc hội Việt Nam là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nhất viện gồm 500 thành viên. Đứng đầu bởi một Chủ tịch, Quốc hội nắm giữ các quyền lực thống nhất của nhà nước (có nghĩa là cơ quan này cao hơn các cơ quan hành pháp và tư pháp), với tất cả các quan chức nhà nước trung ương đều được bổ nhiệm từ các đại biểu Quốc hội. Tòa án nhân dân tối cao, đứng đầu là Chánh án, là tòa án cấp cao nhất của đất nước và chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Dưới Tòa án nhân dân tối cao là các tòa án nhân dân cấp tỉnh và tòa án địa phương. Tòa án quân sự có thẩm quyền đặc biệt trong các vấn đề về an ninh nhà nước.

Phân cấp hành chính

Sau cuộc cải cách hành chính năm 2025, Việt Nam được chia thành 27 tỉnh và 7 thành phố trực thuộc trung ương, có cấp hành chính tương đương với cấp tỉnh.

Quan hệ đối ngoại

Xuyên suốt lịch sử, mối quan hệ đối ngoại chính của Việt Nam là với các triều đại Trung Hoa. Các nguyên tắc về chủ quyền và sự kiên định về độc lập văn hóa của quốc gia được phản ánh trong các văn kiện lịch sử như bài thơ thế kỷ 11 Nam quốc sơn hà và bản cáo trạng năm 1428 Bình Ngô đại cáo. Mặc dù Trung Quốc và Việt Nam chính thức hòa bình, tranh chấp lãnh thổ vẫn tồn tại giữa hai nước về vấn đề Biển Đông. Hai nước duy trì các mối liên kết kinh tế và chính trị. Sau khi chia cắt Việt Nam vào năm 1954, Miền Bắc duy trì quan hệ với Khối phía Đông, trong khi Miền Nam duy trì quan hệ với Khối phía Tây. Việt Nam là thành viên của 63 tổ chức quốc tế, bao gồm Liên Hợp Quốc (UN), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Phong trào Không liên kết (NAM), Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (La Francophonie) và Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Quốc gia này cũng duy trì quan hệ với hơn 650 tổ chức phi chính phủ. Tính đến năm 2010, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 178 quốc gia.

Chính sách đối ngoại của Việt Nam là nhất quán thực hiện chính sách độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, mở rộng, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế. Đất nước này tuyên bố là bạn và đối tác của tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, không phân biệt thể chế chính trị, bằng cách tích cực tham gia vào các dự án phát triển hợp tác khu vực và quốc tế. Kể từ thập niên 1990, Việt Nam đã thực hiện các bước để khôi phục quan hệ ngoại giao với các quốc gia tư bản phương Tây. Quốc gia này vốn đã có quan hệ với các nước phương Tây cộng sản trong những thập kỷ trước đó. Quan hệ với Hoa Kỳ bắt đầu được cải thiện vào tháng 8 năm 1995 khi cả hai bang nâng cấp các văn phòng liên lạc lên cấp đại sứ quán. Vào tháng 5 năm 2016, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã tiếp tục bình thường hóa quan hệ với Việt Nam sau khi ông tuyên bố dỡ bỏ lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam. Việt Nam đã theo đuổi mối quan hệ chặt chẽ hơn với Hoa Kỳ, đặc biệt là trong bối cảnh địa chính trị của các tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc tại Biển Đông. Chính sách đối ngoại của Việt Nam tập trung vào việc cân bằng mối quan hệ với Trung Quốc và với Hoa Kỳ. Việt Nam vẫn duy trì các mối quan hệ quân sự và an ninh với Nga.

Quân sự

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam bao gồm Quân đội nhân dân Việt Nam, Công an nhân dân Việt Nam và Dân quân tự vệ. Quân đội nhân dân Việt Nam (VPA) là tên chính thức cho tổ chức quân sự hoạt động ở Việt Nam và được chia thành:

Quân chủng Lục quân: không tổ chức Bộ tư lệnh riêng như Hải quân, Phòng không – Không quân và Cảnh sát biển mà các quân đoàn chủ lực và binh chủng do Bộ Tổng tham mưu trực tiếp chỉ đạo.

Quân chủng Hải quân: thành lập năm 1955, xây dựng trên cơ sở Cục Phòng thủ Bờ biển.

Quân chủng Phòng không – Không quân: hợp nhất từ hai quân chủng Phòng không và Không quân từ năm 2000.

Lực lượng Bộ đội Biên phòng: thành lập năm 1958

Lực lượng Cảnh sát biển: thành lập năm 1998

Lực lượng Tác chiến Không gian mạng: thành lập năm 2017

Lực lượng Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh: thành lập năm 1976

VPA có số lượng khoảng 450.000 người, còn tổng lực lượng, bao gồm cả bán quân sự và dân quân tự vệ, có thể lên khoảng 5.000.000 người. Năm 2022, chi phí đầu tư quân sự ở Việt Nam khoảng 7,32 tỷ USD, tương đương khoảng 1,79% GDP năm 2022.

Kinh tế

Xuyên suốt lịch sử Việt Nam, nền kinh tế chủ yếu dựa trên nông nghiệp - đặc biệt là thâm canh lúa nước. Bô-xít, một nguyên liệu trong sản xuất nhôm, được khai thác ở miền Trung Việt Nam. Kể từ khi thống nhất, nền kinh tế đất nước được định hình chủ yếu bởi ĐCSVN thông qua các Kế hoạch 5 năm được quyết định tại các phiên họp toàn thể của Ban Chấp hành Trung ương và các kỳ đại hội toàn quốc. Việc tập thể hóa các trang trại, nhà máy và tư liệu sản xuất đã được thực hiện như một phần của việc thiết lập kế hoạch tập trung, với hàng triệu người làm việc cho các doanh nghiệp nhà nước. Dưới sự kiểm soát của nhà nước, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục bị bủa vây bởi sự kém hiệu quả, tham nhũng trong các doanh nghiệp nhà nước và tình trạng sản xuất dưới mức tiềm năng. Với sự sụt giảm viện trợ kinh tế từ đối tác thương mại chính là Liên Xô sau sự xói mòn của Khối phía Đông vào những năm 1980, và sự sụp đổ của Liên Xô sau đó, cùng những tác động của lệnh cấm vận thương mại sau chiến tranh do Hoa Kỳ áp đặt, Việt Nam bắt đầu tự do hóa thương mại bằng cách phá giá tỷ giá hối đoái để tăng cường xuất khẩu và bắt tay vào chính sách phát triển kinh tế.

Vào năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của ĐCSVN đã giới thiệu các cải cách kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như một phần của chương trình cải cách Đổi Mới. Sở hữu tư nhân bắt đầu được khuyến khích trong công nghiệp, thương mại và nông nghiệp, và các doanh nghiệp nhà nước đã được tái cơ cấu để hoạt động dưới các ràng buộc của thị trường. Điều này dẫn đến việc các kế hoạch kinh tế 5 năm được thay thế bằng cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ kết quả của những cải cách này, Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm khoảng 8% trong giai đoạn 1990–1997. Hoa Kỳ đã chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam vào năm 1994. Mặc dù Khủng hoảng tài chính châu Á 1997 đã gây ra sự chậm lại của nền kinh tế xuống mức tăng trưởng 4–5% mỗi năm, nền kinh tế đã bắt đầu phục hồi vào năm 1999, và tăng trưởng khoảng 7% mỗi năm từ năm 2000 đến năm 2005. Vào ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới). Theo Tổng cục Thống kê (GSO), tăng trưởng vẫn duy trì mạnh mẽ bất chấp suy thoái kinh tế toàn cầu cuối thập niên 2000, giữ ở mức 6,8% vào năm 2010. Tỷ lệ lạm phát so với cùng kỳ của Việt Nam đạt 11,8% vào tháng 12 năm 2010, và đồng tiền nội tệ là đồng Việt Nam đã bị phá giá ba lần.

Tình trạng nghèo khổ cùng cực, được định nghĩa là tỷ lệ dân số sống với mức thu nhập dưới 1 USD mỗi ngày, đã giảm ở Việt Nam, và tỷ lệ nghèo tương đối thấp hơn so với Trung Quốc, Ấn Độ và Philippines. Sự sụt giảm này có thể nhờ các chính sách kinh tế công bằng nhằm cải thiện mức sống và ngăn chặn sự gia tăng của bất bình đẳng. Các chính sách này bao gồm phân phối đất đai bình quân trong các giai đoạn đầu của chương trình Đổi Mới, đầu tư vào các vùng sâu vùng xa nghèo hơn, và trợ cấp giáo dục và y tế. Kể từ những năm 2000, Việt Nam đã áp dụng tự do hóa thương mại có lộ trình, một cách tiếp cận hai luồng mở cửa một số lĩnh vực kinh tế cho thị trường quốc tế. Công nghiệp chế tạo, công nghệ thông tin và các ngành công nghiệp công nghệ cao sau đó đã hình thành một bộ phận lớn hơn và phát triển nhanh hơn của nền kinh tế quốc dân. Việt Nam là nhà sản xuất dầu lớn thứ ba ở Đông Nam Á với tổng sản lượng năm 2011 là 318.000 thùng trên ngày (50.600 m3/d). Vào năm 2010, Việt Nam được xếp hạng là nhà sản xuất dầu mỏ thô lớn thứ tám trong khu vực Châu Á và Thái Bình Dương. Hoa Kỳ mua tỷ trọng lớn nhất trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam, trong khi hàng hóa từ Trung Quốc là mặt hàng nhập khẩu phổ biến nhất của Việt Nam.

Dựa trên những khảo sát của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam là 2,3%, GDP danh nghĩa đạt 406,452 tỷ USD và GDP bình quân đầu người danh nghĩa là 4.086 USD. Bên cạnh nền kinh tế khu vực sơ khai, du lịch đã đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam với 7,94 triệu khách quốc tế được ghi nhận vào năm 2015.

Nông nghiệp

Việt Nam là nhà sản xuất hạt điều lớn nhất thế giới, chiếm một phần ba thị phần toàn cầu; là nhà sản xuất hồ tiêu lớn nhất, chiếm một phần ba thị trường thế giới; và là nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai thế giới sau Thái Lan kể từ thập niên 1990. Sau đó, Việt Nam trở thành nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới. Quốc gia này có tỷ lệ sử dụng đất cho cây lâu năm cao nhất cùng với các quốc gia khác trong Tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng.

Tổng sản lượng thủy sản của Việt Nam từ đánh bắt và nuôi trồng thủy sản đạt 5,6 triệu tấn vào năm 2011 và 6,7 triệu tấn vào năm 2016. Sản lượng của ngành thủy sản Việt Nam đã chứng kiến sự tăng trưởng, điều này có thể nhờ vào sự mở rộng liên tục của phân ngành nuôi trồng thủy sản.

Khoa học và công nghệ

Năm 2010, tổng chi ngân sách nhà nước của Việt Nam cho khoa học và công nghệ chiếm khoảng 0,45% GDP. Kể từ khi chính phủ thành lập Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) vào năm 1975, quốc gia này đang nỗ lực phát triển chương trình vũ trụ quốc gia đầu tiên, đặc biệt là sau khi hoàn thiện cơ sở hạ tầng tại Trung tâm Vũ trụ Việt Nam (VSC) vào năm 2018. Việt Nam đã có những tiến bộ trong việc phát triển robot, chẳng hạn như mẫu robot hình người TOPIO. Một trong những ứng dụng nhắn tin của Việt Nam, Zalo, được phát triển bởi Vương Quang Khải, một hacker người Việt, người sau đó đã làm việc với công ty dịch vụ công nghệ thông tin lớn nhất cả nước, Tập đoàn FPT.

Theo Viện Thống kê UNESCO, Việt Nam đã dành 0,19% GDP cho nghiên cứu và phát triển khoa học vào năm 2011. Việt Nam xếp thứ 44 trong Chỉ số Đổi mới sáng tạo Toàn cầu vào năm 2025. Thứ hạng của quốc gia này đã tăng lên kể từ năm 2012, khi đó xếp thứ 76. Từ năm 2005 đến năm 2014, số lượng các công bố khoa học của Việt Nam được ghi nhận trong Web of Science của Thomson Reuters đã tăng với tốc độ cao hơn mức trung bình của Đông Nam Á. Các công bố tập trung chủ yếu vào khoa học đời sống (22%), vật lý (13%) và kỹ thuật (13%), điều này nhất quán với những tiến bộ trong sản xuất thiết bị chẩn đoán và đóng tàu.

Du lịch

Du lịch đóng góp 7,5% vào tổng GDP của Việt Nam. Việt Nam đã đón khoảng 13 triệu lượt khách du lịch vào năm 2017, tăng 29,1% so với năm trước đó. Phần lớn khách du lịch đến quốc gia này, khoảng 9,7 triệu lượt, đến từ châu Á; cụ thể là Trung Quốc (4 triệu), Hàn Quốc (2,6 triệu) và Nhật Bản (798.119). Việt Nam cũng thu hút du khách từ châu Âu, với gần 1,9 triệu lượt khách vào năm 2017; hầu hết du khách châu Âu đến từ Nga (574.164), tiếp theo là Vương quốc Anh (283.537), Pháp (255.396) và Đức (199.872). Các lượt khách quốc tế khác theo quốc tịch bao gồm Hoa Kỳ (614.117) và Úc (370.438).

Những điểm đến được ghé thăm nhiều nhất tại Việt Nam là thành phố đông dân nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, với hơn 5,8 triệu lượt khách quốc tế, tiếp theo là Hà Nội với 4,6 triệu và Hạ Long, bao gồm cả Vịnh Hạ Long với 4,4 triệu lượt khách. Cả ba đều nằm trong danh sách 100 thành phố được ghé thăm nhiều nhất trên thế giới. Việt Nam là nơi có tám Di sản Thế giới của UNESCO. Vào năm 2018, tạp chí Travel + Leisure đã xếp hạng Hội An là một trong 15 điểm đến tốt nhất thế giới để ghé thăm.

Giao thông

Một phần mạng lưới giao thông của Việt Nam có nguồn gốc từ thời Pháp thuộc, khi nó được sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển nguyên liệu thô đến các cảng chính. Hệ thống này đã được mở rộng và hiện đại hóa sau khi Việt Nam bị chia cắt. Hệ thống đường bộ của Việt Nam bao gồm các quốc lộ do cấp trung ương quản lý, tỉnh lộ do cấp tỉnh quản lý, huyện lộ do cấp huyện quản lý, đường đô thị do các thành phố và thị xã quản lý, và đường xã do cấp xã quản lý. Vào năm 2010, hệ thống đường bộ của Việt Nam có tổng chiều dài khoảng 188.744 kilômét (117.280 mi), trong đó 93.535 kilômét (58.120 mi) là đường nhựa bao gồm các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và huyện lộ. Tổng chiều dài của hệ thống quốc lộ là khoảng 15.370 kilômét (9.550 mi) với 15.085 kilômét (9.373 mi) chiều dài đã được thảm nhựa. Hệ thống tỉnh lộ có khoảng 27.976 kilômét (17.383 mi) đường nhựa, trong khi 50.474 kilômét (31.363 mi) đường huyện đã được thảm nhựa.

Xe đạp, xe máy và xe tay ga vẫn là những loại hình giao thông đường bộ phổ biến nhất tại quốc gia này, một di sản từ thời Pháp, trong khi số lượng ô tô cá nhân đã tăng lên trong những năm qua. Xe buýt công cộng do các công ty tư nhân vận hành là phương thức di chuyển đường dài chính của phần lớn người dân. Tai nạn giao thông vẫn là một vấn đề an toàn của giao thông Việt Nam, với trung bình 30 người tử vong mỗi ngày. Ún tắc giao thông là một vấn đề ngày càng nghiêm trọng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là với sự gia tăng của việc sở hữu ô tô cá nhân. Dịch vụ đường sắt xuyên quốc gia chính của Việt Nam là Tàu Thống Nhất đi từ Thành phố Hồ Chí Minh đến Hà Nội, với quãng đường dài gần 1.726 kilômét (1.072 mi).

Việt Nam vận hành 20 sân bay dân dụng, bao gồm ba cửa ngõ quốc tế: Nội Bài tại Hà Nội, Sân bay quốc tế Đà Nẵng tại Đà Nẵng, và Tân Sơn Nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh. Tân Sơn Nhất là sân bay lớn nhất cả nước, xử lý phần lớn lưu lượng hành khách quốc tế. Theo một kế hoạch đã được chính phủ phê duyệt, Việt Nam sẽ có thêm bảy sân bay quốc tế nữa vào năm 2025, bao gồm Sân bay quốc tế Vinh, Sân bay quốc tế Phú Bài, Sân bay quốc tế Cam Ranh, Sân bay quốc tế Phú Quốc, Sân bay quốc tế Cát Bi, Sân bay quốc tế Cần Thơ, và Sân bay quốc tế Long Thành. Theo kế hoạch, Sân bay quốc tế Long Thành sẽ có công suất phục vụ hàng năm là 100 triệu hành khách sau khi đi vào hoạt động đầy đủ vào năm 2025. Vietnam Airlines, hãng hàng không quốc gia thuộc sở hữu nhà nước, duy trì một phi đội gồm 86 máy bay chở khách và đặt mục tiêu vận hành 170 chiếc vào năm 2020. Một số hãng hàng không tư nhân cũng hoạt động tại Việt Nam, bao gồm Air Mekong, Bamboo Airways, Jetstar Pacific Airlines, VASCO và VietJet Air. Là một quốc gia ven biển, Việt Nam có các cảng biển bao gồm Cam Ranh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Hạ Long, Quy Nhơn, Vũng Tàu, Cửa Lò, và Nha Trang. Tiến sâu hơn vào nội địa, mạng lưới sông ngòi của đất nước đóng vai trò quan trọng trong giao thông nông thôn với hơn 47.130 kilômét (29.290 mi) đường thủy có thể lưu thông cho phà, sà lan và taxi đường thủy.

Năng lượng

Ngành năng lượng của Việt Nam do Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) do nhà nước kiểm soát chiếm ưu thế. Tính đến năm 2017, EVN chiếm khoảng 61,4% hệ thống phát điện của cả nước với tổng công suất điện là 25.884 MW. Các nguồn năng lượng khác bao gồm PetroVietnam (4.435 MW), Vinacomin (1.785 MW) và 10.031 MW từ các nhà đầu tư xây dựng – vận hành – chuyển giao (BOT). Hầu hết điện năng của Việt Nam được tạo ra từ thủy điện hoặc các nhà máy nhiệt điện nhiên liệu hóa thạch như than, dầu và khí đốt, trong khi nhiên liệu diesel, thủy điện nhỏ và năng lượng tái tạo cung cấp phần còn lại.

Phân khúc khí đốt gia dụng tại Việt Nam do PetroVietnam chiếm ưu thế, đơn vị kiểm soát gần 70% thị trường nội địa cho khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG). Kể từ năm 2011, công ty này cũng vận hành năm nhà máy điện năng lượng tái tạo, bao gồm Nhà máy Nhiệt điện Nhơn Trạch 2 (750 MW), Nhà máy Điện gió Phú Quý (6 MW), Nhà máy Thủy điện Hủa Na (180 MW), Nhà máy Thủy điện Đăkđrinh (125 MW) và Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 (1.200 MW).

Theo thống kê từ BP, Việt Nam nằm trong danh sách 52 quốc gia có trữ lượng dầu thô xác minh. Vào năm 2015, trữ lượng này là khoảng 4,4 tỷ thùng, xếp Việt Nam ở vị trí thứ nhất tại Đông Nam Á, trong khi trữ lượng khí đốt xác minh là khoảng 0,6 nghìn tỷ mét khối (tcm), xếp thứ ba tại Đông Nam Á sau Indonesia và Malaysia.

Đọc bài đầy đủ trên Wikipedia

Nội dung từ Wikipedia, giấy phép CC BY-SA. Lấy trực tiếp qua API Wikipedia.